BÀN VỀ GIẢI ĐỘC CHO CƠ THỂ NGƯỜI

                                                                   Lương Y Kiều Bình Quang

                                                                        

Hiện nay  trên mạng thông tin Xã hội đang rộ lên “phong trào giải độc cho cơ thể” . Điều đặc biệt nguy hiểm là những thông tin đó đi theo xu hướng coi việc giải độc cho cơ thể là công việc đơn giản, không cần có hiểu biết về y học cũng có thể làm được. Người ta truyền tin cho nhau tên mấy thứ thực phẩm, như : Bột Nghệ; Chanh tươi , Mật Ong, Tỏi, Dấm v.v… hòa nước uống vảo buổi sáng là đã giải độc được rồi. Với lương tri của một người Việt đang sưu tầm nghiên cứu bảo tồn nguồn gốc của trí tuệ Y học cổ truyền dân tộc Việt, chúng tôi rất lo ngại về vấn nạn này. Để mọi người quan tâm về việc giải độc cho cơ thể có thêm thông tin tham khảo chúng công bố Công trình nghiên cứu này:
   Công trinh có Hai phần Chính
    I/ Phần Một: Y Học Hiện Đại ( Tây Y) nói về giải độc cho cơ thể người.
    II/ Phần Hai: Y Việt Cổ truyền bàn về giải độc cho cơ thể Người cùng Các Bài thuốc cổ truyền về giải độc

 

       Việt Y cổ truyền nhận biết về giải độc cho cơ thể Người.


                                              Lưu Hưng Linh

 

                                                PHẦN 1

     Y học hiện đại (Tây Y) nói về giải độc cho cơ thể Người.
   Những nghiên cứu cơ bản về chuyển hóa các chất ở cơ thể Người của Y học Hiện Đại.

 


    1. Khái lược về Hóa Học của cơ thể Con Người đang sống của Y học Hiện Đại.
  1.1 Chuyển hóa các chất trong cơ cơ thể sống là những chuỗi phản ứng hóa học không ngừng.
     Cơ thể đang sống của Con Người là một thực thể Sinh Học được cấu tạo bằng các Sinh nguyên tố (Nguyên tố sinh học). Điểm đặc biệt riêng có của Nguyên tố Sinh học là chúng tham gia cấu tạo tế bào và các Mô tạo hình cơ thể đồng thời tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất, chuyển hóa năng lượng (tạo năng), tham gia vào những hoạt động sinh lý của cơ thể.
   Sinh nguyên tố tham gia cấu tạo cơ thể cũng là những nguyên tố Hóa học xây dựng lên những phân tử “không sống” ( các chất Vô cơ). Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa cơ thể sống với môi trường sống thường trực luôn hiện hữu quanh con người, chúng ta cần ghi nhi nhớ: Vỏ Trái Đất có khoảng 90 nguyên tố, nhiều nhất là O, Si, Al; cơ thể sống của Con người chỉ có 30 Sinh nguyên tố, nhiều nhất là H, C, O, N… Như vậy, về mặt Nguyên tố, giới sống (Hữu cơ) và giới không sống (Vô cơ) có sự thống nhất, nhưng không đồng nhất.
   Các nguyên tố không ở trạng thái tự do mà kết hợp với nhau trong các phân tử vô cơ ( nước chiếm 60% và muối vô cơ chiếm 4-5% thân trọng) và các chất hữu cơ (Glucit, Lipit, Protein…). Đó là các Sinh phân tử (Phân từ Sinh học). Cơ thể sống là một tập hợp các phân tử trong một cơ cấu tổ chức nhất định. Sinh vật sử dụng các phân tử đơn giản tạo thành các Phân tử lớn và phức tạp hơn, các Phức hợp phân tử, các Bào quan, rồi đến Tế bào và Cơ thể. Sinh vật tự tổ chức nên cơ thể của chúng.
   Chuyển hóa các chất là một đặc điểm quan trọng của Sinh vật. Chuyển hóa là điều kiện tồn tại và phát triển của thực thể sống. Chuyển hóa các chất bao gồm tất cả quá trinh Hóa học xảy ra trong cơ thể từ khi thức ăn được đưa vào cơ thể đến khi chất cặn bã được thải ra ngoài môi trường. Chất cặn bã là sản phấm của quá trình biến đổi Hóa học của các chất trong thức ăn. Quá trình này còn có tên gọi là quá trình trao đổi chất.
    Khâu quan trọng cần đặc biệt chú ý của quá trình trao đổi chất là Chuyển hóa trung gian. Gọi là Chuyển hóa trung gian là bởi các quá trình hóa học diễn ra qua nhiều khâu trung gian và nhiều chất trung gian được hình thành trong quá trình đó. Các chất này còn có tên gọi là Chất chuyển hóa hay sản phảm chuyển hóa. Chuyển hóa diễn ra quá hai quá tình: Đồng Hóa và Dị Hóa.
   Đồng hóa: Là quá trình biến đổi các Đại phân tử  Hữu cơ có tính đặc hiệu theo nguồn gốc thức ăn thành các Đại phân tử có tính đặc hiệu của cơ thể, như: Glucits, lipits, Protein, acits Nucleit. Quá trình đồng hóa diễn ra qua ba bước:
   Bước Một:  Tiêu Hóa . Thức ăn được đưa vào Miệng. Răng nghiền thức ăn con lưỡi tiết nước bọt để bôi trơn. Thức ăn sẽ có hành trình 12 giờ qua quãng đường dài 4 mét đi qua Dạ dầy, Ruột Non, ruột Già. Thức ăn được đưa từ  Dạ dày xuống ruột nhờ sự co bóp của các cơ bên trong ruột gọi là quá trình nhu động ruột. Nhu động rụôt mạnh tới mức khi ta lộn ngược thân( Trồng cây chuối) ruột vẫn tự động nuốt thức ăn.
    Từ ống thực quản thức ăn vào Dạ dày qua lỗ hổng nối với thực quản. Tại đây thức ăn được cơ bắp Dạ dày nghiền nát, đồng thời các a cit và Enzyme cực mạnh tác động sẽ phân giải thức ăn thành các dịch lỏng. Dạ dày tự bảo vệ bằng lớp màng nhung bao quanh thân dạ dày. Sau khoảng 1 giờ thức ăn được đưa xuống Ruột Non thông qua một lỗ hổng mang tên Cơ thắt môn vị.
    Hệ ruột Non dài hơn 3 mét là nơi hấp thu hầu hết các chất dinh dưỡng của thức ăn.Đầu tiên Tụy sẽ tiết ra dung dịch trung hòa a cit, sau đó tuyến Mật từ gan tiết mật tiếp tục phân giải thức ăn thành từng giọt nhỏ cho thành ruột dễ dàng háp thu dinh dưỡng. Quá trình này diễn ra khoảng 90 phút. Sau đó phần thức ăn còn lại ( hầu hết là chất xơ và các tế bào chết từ thành ruột) tiến thẳng vào Ruột Già qua phần Ruột Tịt( manh tràng) có chức năng giữ cho thức ăn không trào ngược lên trên.
   Ruột giả là khâu cuối cùng của quá trình tiêu hóa. Nhờ có quần thể vi khuẩn có ích cộng sinh đã tiết ra những Enzym có chức năng phân giải chất xơ còn lại của thức ăn là Cacbonhydrate phức tạp thành đường. Các nhu động của ruột già hút kiệt chất dinh dưỡng còn lại, tách nước ra khỏi bà thải rồi tống ra ngoài cơ thể, kết thúc quá trình giải độc đầu tiên cho cơ thể sống.
    Hai bước tiếp theo của quá trình đồng hóa là Hấp thu và Tổng Hợp thức ăn mang tính đặc hiệu của cơ thể được diễn ra đồng thời để các sản phẩm hấp thu được dòng máu lưu thông đưa đến các Mô và được các tế bào sử dụng để tổng hợp các Đại Phân tử có tính đặc hiệu của cơ thể. Các Đại phân tử này được sử dụng để duy trì sự sống của cơ thể đang sống, thông qua những chuyển hóa sau: (1) Xây dựng các Tế bào và Mô, qua đó cung cấp vật chất cho các tế bào sản xuất Protein mới để thay thế những Protein đã hết hạn sử dụng. (2) Dự trữ vật chất cho chuyển hóa của cơ thể. Ví dụ như: Glycogen, Triglycerit… (3) Dồn các đưỡng chất đặc biệt cho cơ thể xây dựng các tế bào Nào- tủy sống và mạng lưới dây thần kinh; (4) Lựa chọn các dưỡng chất đặc thù xây dựng các tế bào của Hệ thống miễn dịch; Tích trữ những sinh chất đặc hiệu cho Hệ thống tế bào đặc dụng sản xuất các chất xúc tác sinh học, như Enzym các loại; Hóc môn đặc dụng và các chủng loại Vitamin đáp quá trình chuyển hóa - trao đổi chất cho toàn cơ thể.
   Dị Hóa: Đó là quá trình phân giải các chất hữu cơ trong các Đại Phân Tử được dòng máu lưu thông đưa vào tế bào, như: Glucit, Lipit, Protit thành các phân tử nhỏ hơn, kèm theo sự giải phóng năng lượng. Điều kỳ diệu làm nên sự sống ở cơ thể Người là quá trình chuyển hóa các chất trong cơ thể  diễn ra ở giai đoạn này. Chúng ta quan sát sự chuyển hóa của Đại Phân tử GLUCIT để chứng minh:
    Đại Phân tử GLUCIT sản phẩm Đồng Hóa mang tính đặc hiệu của cơ thể có nguồn gốcThực vật, như: Cơm, Ngô, khoai (Tinh bột), Đường (Sucroz), Mạch nha (Maltoz), Sữa (Lactoz), Trái cây (Frutoz). Sự tiêu hóa Glucit trong cơ thể xảy ra chủ yếu ở Ruột Non, đặc biệt là Ta Tràng. Sự xuất hiện các Enzym tiêu hóa tương ứng đã thủy phân các đơn vị cấu tạo làMornacarit. Vì tinh bột chiếm lượng lớn nhất trong thức ăn Glucit nên sản phẩm tiêu hóa cuối cùng (các Monosacarit) chủ yếu là Glucoz.
    Con đường đi của thức ăn Glucit trong cơ thể bắt đầu từ sự tiêu hóa thức ăn ở ruột non; các Monosacarit hấp thu qua tế bào niêm mạc ruột, qua tĩnh mạch cửa đến gan.Ở Gan máu chảy chậm, té bào Gan chuyển Glucoz thành Glycogen, một số còn lại qua tĩnh mạch trên Gan vào Hệ Tuần Hoàn, đến Cơ và các Mô khác.Sự chuyển hóa trung gian của Glucit trong tế bào đưa đến hai biển đổi cức kỳ quan trọng, đó là:
 - Tạo ra năng lượng mới cho cơ thể sống: Nhờ “con đường” Hexoz Diphosphat ( viết tắt là HDP) đã tạo ra 60% nguồn năng lượng không thể thay thế. Chuyển hóa theo “con đường  HDP” gồm 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn 1 Phosphoryl hóa Glucoz  và sự tạo  thành Fructoz- 1,6 Diphosphat; (2) Giai đoạn 2; Oxy hóa; (3). Giai đoạn 3 là sự biến đổi tiếp theo của Acit Pyruvic. Nếu tính từ phân tử Glucoz tách từ Glycogen thì được 39ATP.  Con đương chuyển hóa HDP đã cung cấp năng lượng dự trữ ATP cho toàn cơ thể, tập trung chủ yếu ở các mô Cơ.
  - Tạo hình cho các cơ quan hình thành nên cơ thể: Bằng “con đường” chuyển hóa Hexoz chỉ được Phosphoryl 1 lần tạo Hexoz Monophosphat (viết tắt là HMP) qua hai giai đoạn: 1. Oxy hóa trực tiếp Glucoz 6 phosphat thành Pentoz phosphat; 2. Chu trình Pentoz.  Với vai trò tạo hình, chuyển  hóa HMP  xây dựng những chất tham gia cấu trúc tế bào, cơ thể, như: hình thành Riboz của Acit Nucleic, glucoz, galactoz trong Polysacarit Tạp, đặc biệt là hình thành Acit Glucuronnic giữ chức năng khử độc.
    Acit Glucuronic có vai trò khử độc cho toàn cơ thể, nó cũng là thành phần của Polysacarit Tạp (SP).  Polysacarit Tạp gồm nhiều Monosacarit (viết tắt là MS/OZ hay đường đơn) khác loại, dẫn xuất của MS hoặc có thêm các chất khác, như: Acit Sulfuric, Acit acetic… Tính khử độc cho toàn cơ thể của Acit Glucuronic là trong môi trường Kiềm nóng nó có thể khử các kim loại nặng, như Đồng, Thủy Ngân…Các phản ứng khử độc của Acit Glucuronic được dùng để định tính và định lượng đường.
   Khi chuyển hóa đi vào giai đoạn Dị Hóa  độ pH toàn cơ thể ở  trạng thái trung tính, nhiệt thân vừa phải(370C), nhưng chính nhờ có các chủng  loại Enzym xúc tác tạo ra các phản ứng liên tiếp hình thành nhiều chất trung gian liên tiếp theo một kịch bản định trước của Tạo Hóa: Sản phẩm của E
nZym 1 là Cơ chất của EnZym 2, v.v…
                    E1            E2             E3                                            E n
                 A---------B -----------C  --------------D…………….. ----------------Z       
  Các EnZym   xúc tác cùng một chuỗi phản ứng thuộc về một Hệ thống có tên gọi là Multienzym ( thường có từ 2 đến 20 EnZym).
   Một đặc điểm quan trọng trong quá trình chuyển hóa là cơ thể luôn ở trạng thái ốn định động. Nghĩa là số phân tử mới được tạo thành bằng số phân tử cũ bị thải hóa. Như vậy chuyển hóa đã làm cho tất cả các chất tham gia cấu tạo nên cơ thể luôn có sự thay cũ đổi mới và mỗi loại chất đều có vòng quay chuyển hóa được tính theo nửa đời sống, tức thời gian cần thiết để một số phân tử của chất đó bị thoái hóa và thay bằng những phân tử mới. Thí dụ ở Chuột: Nửa đời sống của Protein Gan là 6 ngày; nửa đời sống của Glycogen Cơ là là 1 ngày; nửa đời sống của Triglycerin Não là 75 ngày; nửa đời sống của Phospholipit là 200 ngày. Như vậy là tự thân quá trình chuyển hóa của các chất trong cơ thể ở giai đoạn dị hóa đã hàm chứa yếu tố giải độc cho cơ thể rồi
   Qúa  trình chuyển hóa các Đại Phân tử Glucit, Lipit, Protit,Acit Nucleit có liên quan chặt chẽ với nhau, cơ thể điều hòa chúng theo nhu cầu của cơ thể. Sự điều hòa đó diễn ra ở mức Phân tử và Tế bào qua Hệ thống EnZym, các Acit Nucleit…) và ở mức toàn cơ thể qua Hệ Thần kinh và Hệ thống nội tiết. Bí ẩn của chuyển hóa các chất trong cơ thể động vật là uy lực của Hệ thống các chất xúc tác sinh học bao gồm: Enzym, Vitamin và Hormon, trong đó Enxym đóng vai trò trung tâm vì chúng trực tiếp xúc tác các phản ứng, còn Vitamin và Hormon thực hiện vai trò xúc tác thông qua phản ứng của Enzym.
   Uy lực xúc tác vào quá trình chuyển hóa của Enzym kỳ diệu như chuyện thần thoại, người ta mới chỉ mô tả được diễn biến của nó chứ chưa cắt nghĩa được vì sao lại như thế. Ví dụ: Trong cơ thể sống nồng độ Hóa- Sinh của một thực thể A gấp 100 lần nồng độ của một thực thể B đôi tác thì mới bảo đảm đạt hằng số cân bằng; nếu không có mặt Enzym thì hằng số đó phải mất nhiều giờ mới được thiết lập, nhưng nếu có Enzym xúc tác thì sự cân bằng sẽ được thiết lập sau vài giây.
  Mọi tế bào trong cơ thể đều tổng hợp được Enzym cho nhu cầu chuyển hóa của tế bào. Phần lớn các Enzym là các Enzym nội bào xúc tác các phản ứng Hóa Sinh trong tế bào. Một số Enzym được tế bào tiết ra ngoài tế bào  tham gia các phản ứng ở Dịch Cơ Thể. Thí dụ các En zym của các dịch tiêu hóa, như Arnylaz ở nước bọt, Pepsin ở dịch vị, Amylaz, Lipaz, Mallaz, Sacara, Lactax, Trysin, Chymotrypsin của Dịch Tụy.
   Nguồn tích chứa các chủng loại Enzym nằm ở ngay trong tế bào: Các bào quan đều có chức năng chuyển hóa nhất định và chúng có các Enzym tương ứng để xúc tác quá trịnh chuyển hóa ở ngay chính mội Bào Quan đó:
   - Thế Ty: Nơi cư trú của Chu Trình Krebs là chính trường phô diễn giai đoạn thoái hóa chung cuối cùng của các Đại Phân tử Glucit, Lipit, Protit, nên nơi đây luôn thường trực các Enzym của Chu Trình Krebs, các Enzym của chuỗi hô hấp tế bào ( Oxy hóa khử).
   - Các Bào dịch chứa các Enzym của con đường Đường Phân.
    - Ribosom chữa các Enzym xúc tác sinh tổng hợp Protein.
    - Nhân tế bào chứa các Enzym xúc tác sinh tổng hợp AND và các ARN.
     - Các Mô đều có quá trình chuyển hóa chung với những enzym giống nhau,như: các Enzym của chuỗi hô hấp tế bào, các Enzym của sự sinh tổng hợp Protein. Mặt khác mỗi Mô lại có những đặc điểm chuyển hóa riêng và những chức năng chuyển hóa đặc biệt, nên chúng có  những Enzym riêng, đặc trưng. Thí dụ: Gan có các Enzym của quá trình tổng hợp U rê (xảy ra chủ yếu ở Gan); Cơ có những Enzym xúc tác những phản ứng cần cho sự co cơ; các Tuyến Tiêu Hóa sản xuất những Enzym tiêu hóa…
    1.2. Bám sát quá trình chuyển hóa để chuẩn đoán bệnh tật, Y học hiện đại đã có tiến bộ phi thường trong tầm soát bệnh tật của Con người.
    Trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, hóa sinh đã thành công trong việc giải thích các quá trình của sự sống, đến mức mà bây giờ hầu như tất cả các lĩnh vực của khoa học đời sống từ thực vật họcy học, tới di truyền học đều có tham gia vào nghiên cứu hóa sinh. Bằng cách kiểm soát luồng thông tin thông qua sự trao đổi chất, các quá trình sinh hóa làm tăng sự phức tạp của cuộc sống. Đây là một bộ môn giao thoa giữa hóa học và sinh học, và lĩnh vực nghiên cứu có một số phần trùng với bộ môn tế bào họcsinh học phân tử hay di truyền học. Nó là một môn học cơ bản trong y khoa và công nghệ sinh học. Với những diễn tiến trao đổi chất diễn ra trong các cơ quan của cơ thể sống, Ngành khoa học này giúp con người hiểu rõ cơ chế cũng như các thay đổi trong cơ thể sống   Hóa sinh học được chia 2 thể loại: hóa sinh tĩnh và hóa sinh động. Hóa sinh tĩnh viết về cấu tạo, thành phần của các hợp chất sinh học như chất béo (lipid), vitamin, protein, glucid. Hóa sinh động bàn về sự chuyển hóa cũng như chức năng của các hợp chất sinh học.  Y học  hiện đại vận dụng đồng bộ đồng thời kết qủa nghiên cứu ở cả hai khía cạnh này. Nhờ bám sát các thành tựu nghiên cứu về chuyển hóa Sinh-Hóa trong cơ thể sống, Y học hiện đại đã định danh được nguyên nhân gây các bệnh khó chữa từ nhiều thế nay dồn tụ lại vào cuối thế kỷ 20.
   Nhờ vận dụng được kết quả nghiên cứu Hoa-Sinh cả Tĩnh và Động, Y học hiện đại hiểu được: Chuyển hóa trong tế bào theo con đường tạo năng xảy ra ở những Mô cần năng lượng, chủ yếu là Mô Cơ. Khi cơ thể có biểu hiện “nhược Cơ”, thầy chữa có kiến thức về chuyển hóa biết ngay là bệnh nhân bị rối loạn trong vận đông gây ra tình trạng thiếu Oxy. Khi cơ hoạt động, chuyển hóa trong các tế bào mô cơ theo hướng Tạo năng HDP (hiếu khí và yếm khí) làm tăng I-ông Lactat gây đau và mỏi cơ. Chuyển hóa tạo hình(HMP) ở những tế bào của các Mô,như: Vỏ Thượng Thận, Tuyến Giáp, Gan, Tuyến Vú, Hồng cầu… gặp sự cố nên không tạo hình, Y học hiểu được rằng nếu thiếu Glucoz 6, Hồng cầu có thể bị vỡ, Hồng cầu không có Ty thể nên không có Chu trình Krebs, năng lượng do đường phân cùng chu trình tạo hình ở Hông Cầu bị mất. Đây là nguồn gốc các bệnh về Hồng Cầu.     

      Chúng ta tìm hiểu sâu thêm về hiện tượng này để hiểu rõ hơn bản chất của chuyển hóa. Qua đó nhận ra ý định  giải độc cho toàn cơ thể chỉ bằng những thực phẩm chức năng đơn giản như quan niệm khá phổ biến hiện nay là một sai lầm. Chúng ta tiếp tục theo dõi quá trình thoái hóa của Hồng cầu.
    Đời sống trung bình của Hồng Cầu là 120 ngày. Hồng Cầu chết ở Hệ thống liên võng nội Mô Gan, Tủy Sương và nhiều nhất ở Lá Lách. Hemoglobin (Hb) được giải phóng khỏang 8-9 gam/ngày theo trình tự: (1), Hb thoái hóa thành Bilirubin tự do nhờ tách được Săt và Globulin và loại đi gốc Carbonmentylen giải phóng Beliverdin, một sản phẩm trung gian của quá trình chuyển hóa. Beliverdin là là dẫn xuất Tetrapyrol có màu màu xanh.
Sắt được giải phóng, một phần nhỏ được đào thải còn  lại được dự trữ dưới dạng chất trung gian mang tên Ferritin. Globulin tiếp tục được chuyển hóa theo con đường Protein. Ở đây Beliverdin bị khử ở cầu Methen Trung tâm qua việc nhận Hydro từ Coenzym của Reductaz để tạo nên  BILIRUBIN có màu Vàng và được gọi là BILIRUBIN tự do rất độc đối với cơ thể , đặc biệt với Hệ thần kinh, nhưng người nghiện chất ma túy Tổng hợp thường bị ngộ độc bất thình lình gây chứng hoảng loạn bởi  chất này.
    Qua trình thoái hóa Hb thành Bilirubin tự do xảy ra ở Hệ liên võng nội Mô Là Lách một ít ở Gan. Sau khi được hình thành Bilirubin tự do kết hợp với Albumin ở dòng máu lưu thông đến Gan. Ở màng tế bào Gan Bilirubin tự do tách tách khỏi phức hợp Bilirubin- albumin và được vận chuyển tích cức qua màng vào trong tế bào Gan. Tại Gan, nhờ có Enym Glucurnyt Transferaz gắn 2 gốc Acit Glucuronic (đặc trách giải độc cho toàn cơ thể) vào gốc Propionat của Bilirubin tự do để tạo nên Bilirubin Liên Hợp bao gồm: Bilirubinnonoglucuronat và Bilirubindiglucuronat. Bilirubin Liên Hợp không độc được vận chuyển vào các ống dân Mật trong Gan và theo Mật xuống Ruột Non. Ở Ruột Non dưới tác động của men do Vi Khuẩn Đường Ruột tiết ra, Bilirubin Liên Hợp được thủy phân để giải phóng Bilirubin Tự Do. Theo dõi tiếp sự kỳ diệu của chuyển hóa Bilirubin cho ta thấy nhiều điều bổ ích:
  Ở cuối Ruột Non và đầu Ruột Già, dưới tác động của men Vi khuẩn Kỵ khí Bilirubin bị khử và chuyển hóa thành 3 Hợp chất không màu có tên là: Mesobilirubinnogen, Urobilinogen và Stecobilinogen. Ba hợp chất này có cấu tạo hóa học tương tự nên gọi chung là Urobilinogen. Trên 50% chất Urobilinogen trở lại Gan qua tĩnh mạch cửa. Ở Gan, một phần Urobilinogen được Ô xy hóa tại tạo thành Bilirubin đổ vào Mật rồi trở lại ruột. Phàn còn lại rất nhỏ qua máu vào Thận đào thải ra ngoài theo nước tiểu. 50% Urobilinogen còn lại ở ruột được đào thải ra ngoài theo phân rồi bị Ô xy hóa thành những sản phẩm có màu vàng nhạt có tên là Urobili.
  Những người nghiện chất Ma túy Tổng hợp theo dòng Methamphetamimes thường mắc chứng “Rối loạn chuyển hóa Hemoglobin và Sắc tố Mật” khi Bilirubin toàn phần tăng trên 20mg/lit tạo hiện tượng Vàng Da. Người ta đã phân chia ra như sau:
    (1) Vàng Da trước Gan, các trường hợp tan huyết thường thấy trong các trường hợp: các bệnh Hồng Cầu dễ vỡ, sốt co rút do ngộ độc một trong những thành phần hóa học của Ma túy tổng hợp làm biết mất men G6Pd. Những trường hợp này quan sát thấy: do nhiều Hồng Cầu bị vỡ đã giải phóng nhiều Hb làm cho Bilirubin Gián tiếp tăng cao, hoặc Bilirubin Tự Do tăng. Tìm thấy các bằng chứng này qua Phân và nước tiểu.
    (2) Vàng Da tại Gan, gặp trong các trường hợp thiếu Men Glucuronyl trasferaz làm tăng Bilirubin Gián tiếp, hoạc viên Gan do té bào Gan tổn thương kém khả năng liên hợp làm tăng Bilirubin Gián tiếp. Nếu viêm Gan kèm theo tắc ống  Mật Nhỏ thì cả 3 loại Bilirubin đều tăng.
     (3), Gặp trong trường hợp tắc ống dẫn Mật do Sỏi Mật, Ung thư đầu Tụy, hạch to chèn ép đường dẫn Mật,v.v… Bilirubin Trực Tiếp được tạo ra đều đặn nhưng không xuống Ruột được sẽ tràn vào đường đẫn Máu gây nên Bilirubin trực tiếp tăng cao trong Máu.Ở phân không có Urobilinogen, phân có Mỡ do thiếu Mật, Phân không có màu vàng.. Do nghẽn đưỡng dẫn Mật nên muối Mật cũng tràn vào máu và ra nước tiểu.
    Nhờ bám sát con đường chuyển hóa nên Y học hiện đại đọc bệnh rất rõ và thường nói rõ nguyên nhân bệnh là do thừa hoặc thiếu chất chuyển hóa trung gian và thường là thiếu hụt các chất xúc tác Sinh học làm quá trình chuyển hóa bị gián đoạn hoặc đẫ tới ngưng trệ. Nhưng, Sinh Hóa không nói được nguyên nhân tại sao quá trình chuyển hóa bị ngưng trệ hoặc sai lầm, nên Y học cũng đành bó tay không trả lời được tại sao trong con đường chuyển hóa đó các tế bào tương thích không tiết các Enzym tương thích. Do dựa vào diễn biến của chuyển hóa để định  bệnh nên Y học hiện đại chỉ biết cơ thể đang thiếu một vài nguyên tố vi lượng nào đó và dùng thuốc để bù đặp, ví như cơ thể thiếu Sắt, thiếu Kẽm , v.v,,, thì cấp cho cơ thể  các thứ đó bằng uống hoặc tiêm và đường dẫn máu với hy vọng là khỏi bệnh. Thực tế lâm sàng chỉ ra không phải lúc nào Y Học cũng gặp may, nhưng giải thích sự thất bại đó như thế nào thì Bác Sỹ thường là im lặng…Rất may mắn cho nền Y học nước nhà, có một nền Y học mà nhiều năm trước đây bị xem thường là không có cơ sở khoa học đã trả lời được câu hỏi hóc bùa này. Sự trả lời đó không phải bằng lý luận với những thuật ngữ Tây học mà bằng các bài thuốc của Y Việt cổ. Chúng ta sẽ đi vào vấn đề này ở phần sau.
    Trước thập niên ’60 của thế kỷ 20, khi khoa học Sinh- Hóa (trao đổi chất trong cơ thể Người) chưa có những phát hiện quan trọng thì Y học hiện đại vẫn coi việc giải độc cho cơ thể là công việc đơn giản và thường được dùng biện pháp uống liều “thuốc tẩy” và ống “thụt” để tẩy rửa cơ thể. Phản ứng phụ không mong muốn của liệu pháp này nhiều tới mức các vị bác sỹ chuyên làm liệu pháp này đã thôi không ứng dụng nữa. Từ thập niên ’70 của thế kỷ 20 những thành tựu của khoa học Sinh Hoa được công bố, người ta nhận ra các liệu pháp tẩy rửa xưa cũ chỉ mon men tới khâu mở đầu của chuyển hóa, tức là tẩy độc cơ thể theo truyền thống cũ mới chỉ tác động được phần đầu , tức là Tiêu hóa ở khâu “Đồng hóa” thôi. Bệnh tật mà con người gặp phải trong chuyển hóa phần lớn diễn ra ở khâu Dị Hóa, tức là trao đổi chất diễn ra trong mỗi tế bào. Trao đổi chất trong tế bào thực chất là chuyển hóa năng lượng sinh học diễn ra  qua Chu trình KREBS nằm trong thể Ty của của tế bào. Chu trình KREBS mang tên người phát hiện ra nó. Tác giả là nhà nghiên cứu Sinh Hóa người Đức gốc Do Thái nhưng sự nghiệp  của ông thành đạt ở Vương quốc Anh. Chu trình thoái hóa chung cuối cùng của các thức ăn Đồng Hóa: Glucit, Lipit, Protit, còn giọ là Chu trình Acit Citric được ông phát hiện ra từ năm 1937, 17 năm sau, năm 1953 được tra giải NoBen Sinh Hóa.
    Việc phát hiện ra Chu trình Acit Citric đã làm cho Sinh Hóa là một ngành khoa học vững chắc. Chu trình Krebs và sau đó không lâu được bổ xung một số chu trình khác đã hóa giải gần như toàn bộ bí ẩn của trao đổi chất trong cơ thể sống
. Sự tiến bộ vượt bậc của khoa học cơ bản Sinh Hóa đã khiến các Bác sỹ rất thận trọng khi có ý định đưa ra liệu pháp giải độc cho toàn cơ thể. Mặt khác, những thập niên cuối của Thế kỷ 20, nhờ có kính hiển vi điện  tử có độ phóng đại trên 100 lần người ta đã phát hiện ra những vi khuẩn có ích đang khu trú trong cơ thể người, nếu thiếu những vi khuẩn có ích đó tiết Enzym vào quá trình chuyển hóa thì sẽ gây bệnh tật, nguy hại tới tính mạng. Nếu dùng thuốc giải độc theo kiểu “Xúc sạch cơ thể” như kiểu xúc rửa chai lọ thì nguy hại cho sự sống. Vì thế những người bán thuốc giải độc luôn giữ an toàn bằng cách nói rằng: “ đây là thực phẩm chức năng, không phải thuốc”. Chúng ta cần đi sâu vào vấn đề này:
       2, Cơ thể con người là một Quần Xã cộng sinh vi sinh vật.

     Cơ thể người là nơi sinh sống của hàng nghìn tỷ vi khuẩn, song chúng ta không thể nhìn thấy chúng.

   Trước đây, vai trò của vi khuẩn tự nhiên hầu như bị xem nhẹ nhưng một phân tích mới nhất về cấu trúc DNA trong môi trường đã tiết lộ về sự đa dạng cũng như tính thiết thực của quần thể vi sinh vật này. Có khoảng 500 loài vi khuẩn khác nhau trong cơ thể con người. Số lượng những vi trùng ký sinh có thể gây nguy hại cho chúng ta có thể nói là cũng khá đông đảo nhưng nói chung, đa phần vi khuẩn tồn tại là có ích cho cơ thể chúng ta, giúp con người sống khỏe và lâu hơn. Sự tương tác giữa người và vi khuẩn là mối quan hệ cộng sinh. Chúng hấp thụ thức ăn trong cơ thể chúng ta nhưng đổi lại giúp con người sản xuất vitamin, tăng khả năng tiêu hóa và tăng cường hệ thống miễn dịch, giúp chống lại tác động của những vi khuẩn “xấu” hay mầm bệnh nguy hiểm.

Các vi sinh vật sống trong cơ thể con người (microbiome) là một hệ sinh thái gồm các vi khuẩn, thực khuẩn thể, nấm, động vật nguyên sinh và virus. Các vi sinh vật này không phải là những kẻ xâm lấn mà có ích và thiếu chúng thì con người không thể tồn tại.

Theo các nhà sinh vật học, con người chúng ta không phải là những cá nhân tồn tại đơn lẻ mà nằm trong những hệ sinh thái. Những quả trứng được thụ tinh rồi sinh ra con người chúng ta là một phần của hệ này. Ngoài ra, còn có các phần cấu thành khác lên hệ sinh thái này bao gồm hàng tỷ vi khuẩn, được tìm thấy trong ruột, miệng, da, tất cả các lỗ trên bề mặt cơ thể con người.

Một người trưởng thành khỏe mạnh thì chỉ riêng trong ruột đã có khoảng 100 tỷ vi khuẩn. Hơn nữa, những vi sinh vật  này lại rất đa dạng. Trứng và tinh trùng đóng góp khoảng 23.000 gen khác nhau. Microbiome dưới dạng những vi khuẩn cộng sinh sống trên cơ thể mỗi người đã được nhận dạng là khoảng 3 triệu con. Phần nhiều của con số 3 triệu này tuy khác nhau nhưng có cùng chức năng, và một số lượng lớn những vi khuẩn này có nhiệm vụ hỗ trợ cho quá trình pha trộn gene của cơ thể người.
Và, vì đây thực sự là một hệ thống, quá trình tiến hóa đã sắp xếp thứ tự ưu tiên cho lợi ích của chủ nhà (con người) và vi khuẩn. Trong quá trình trao đổi lẫn nhau để lấy nguyên liệu thô và chỗ trú chân, những vi khuẩn sống trong và trên cơ thể người đã cung cấp thức ăn và bảo vệ chủ nhà, đồng thời là một phần không thể thiếu cho quá trình sinh trưởng của chủ nhà. Vào một lúc tồi tệ nào đó, thứ tự ưu tiên giữa chủ nhà và vi khuẩn bị đảo ngược, microbiome hoạt động rối loạn lập tức sẽ gây ra bệnh tật.
   Song vi khuẩn có trực tiếp gây ra bệnh không vẫn còn là một bí ẩn. Tuy nhiên, con người phải đối mặt với bệnh tật là điều có thực, nhưng thường  không phải là những bệnh nhiễm trùng cấp tính mà thuốc thang của thế kỷ 20 có thể dễ dàng điều trị (điều này khiến các bác sĩ về có cái nhìn lệch lạc về vi khuẩn, cho đến tận bây giờ ngành y mới đánh giá cao sự phong phú và đáng chú ý của những hệ sinh thái microbiome trong cơ thể người). Hơn nữa, chúng là những bệnh mãn tính, đồng thời là mối quan tâm chính của y học hiện đại, từ những bệnh như béo phì và tiểu đường, đến những bệnh như tim, hen suyễn và đa xơ cứng, những bệnh thần kinh như bệnh tâm thần và microbiome đóng vai trò quan trọng.

Vai trò của những con vi khuẩn

  Microbiome là một bộ phận thêm vào trên cơ thể người như bao bộ phận khác, chứ không phải là một bộ phận đặc biệt nào đó. Nó có tổng trọng lượng khoảng 1kg. Nó không có cấu trúc như trái tim hoặc lá gan, nó không có hình dạng cố định. Ví dụ, hệ miễn dịch bao gồm các tế bào rải rác khắp cơ thể, tuy vậy hệ miễn dịch có tính chất của một bộ phận cơ thể, nói cách khác nó là một hệ thống những tế bào có tổ chức.

Microbiome cũng là một hệ có tổ chức mà giới sinh vật học đã đếm được có khoảng 100 nhóm tế bào lớn, gọi là ngành, mỗi ngành có năng lực hóa sinh khác nhau. Microbiome người bao gồm 4 ngành chủ yếu: Actibobacteria, Bacteroidetes, Firmicutes và Proteobacteria. Rõ ràng, sự sống bên trong cơ thể con người của những con vi khuẩn là một hình thái sống đặc biệt. Và vì đây thực sự là một hệ thống, quá trình tiến hóa đã sắp xếp thứ tự ưu tiên cho lợi ích của chủ nhà (con người) và vi khuẩn. Trong quá trình trao đổi lẫn nhau để lấy nguyên liệu thô và chỗ trú chân, những vi khuẩn sống trong và trên cơ thể người đã cung cấp thức ăn và bảo vệ chủ nhà, đồng thời là một phần không thể thiếu cho quá trình sinh trưởng của chủ nhà. Vào một lúc tồi tệ nào đó, thứ tự ưu tiên giữa chủ nhà và vi khuẩn bị đảo ngược, microbiome hoạt động rối loạn lập tức sẽ gây ra bệnh tật.

Song vi khuẩn có trực tiếp gây ra bệnh không vẫn còn là một bí ẩn. Tuy nhiên, con người phải đối mặt với bệnh tật là điều có thực, nhưng thường  không phải là những bệnh nhiễm trùng cấp tính mà thuốc thang của thế kỷ 20 có thể dễ dàng điều trị (điều này khiến các bác sĩ về có cái nhìn lệch lạc về vi khuẩn, cho đến tận bây giờ ngành y mới đánh giá cao sự phong phú và đáng chú ý của những hệ sinh thái microbiome trong cơ thể người). Hơn nữa, chúng là những bệnh mãn tính, đồng thời là mối quan tâm chính của y học hiện đại, từ những bệnh như béo phì và tiểu đường, đến những bệnh như tim, hen suyễn và đa xơ cứng, những bệnh thần kinh như bệnh tâm thần và microbiome đóng vai trò quan trọng.

Tuy nhiên, những mối liên quan giữa microbiome và sức khỏe con người lại do não điều khiển. Từ lâu người ta đã biết bệnh nhân tâm thần thường có những bệnh về đường ruột. Những người này thường có microbiome dị thường. Đặc biệt trong đường ruột của họ chứa nhiều khuẩn Clostridia, đây là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật.

Một microbiome hoạt động tốt không có nghĩa là microbiome đó không có xung đột bên trong (luôn có sự cạnh tranh trong bất cứ hệ sinh thái nào, thậm chí là hệ sinh thái ổn định và hoạt động tốt). Clostridia giết chết vi khuẩn vốn phải cạnh tranh để có chỗ đứng trong ruột với những vi khuẩn có công thức hóa học là phenol. Nhưng phenol lại độc đối với tế bào con người, nên chúng cần được kết hợp với sulphate. Có nhiều Clostridia trong người thì có nhiều phenol và sulphur trong cơ thể người sẽ bị rút cạn. Trong khi đó, sulphur cần thiết cho nhiều việc, trong đó có phát triển trí não. Nếu một đường ruột cần quá nhiều sulphur, trí não có thể phát triển dị thường

Trước đây, rất nhiều trường hợp bệnh tật được cho là do microbiome gây hoang mang cho các bác sĩ điều trị.  Đặc biệt những bệnh do cha mẹ di truyền cho con, nhưng chưa ai có thể tìm ra gene nào tham gia vào việc này. Nguyên nhân bởi bệnh có tác động lên nhiều gene khác nhau, nhưng một số trong những gene này không tìm thấy trong hệ gene của người. 

Một điều rõ ràng là trứng, tinh trùng và cả microbiome đều có thể di truyền. Nhiều vi khuẩn được di truyền trực tiếp từ mẹ sang con. Những vi khuẩn khác cũng được di truyền sau đó qua môi trường trực tiếp từ cơ thể mẹ sang cơ thể con. Do đó, có thể có nhiều bệnh di truyền mà việc di truyền không phải là do gene của cơ thể mà là gene của vi khuẩn trong cơ thể người mẹ.

Bệnh di truyền thường khó chữa trị và là bệnh nan y. Nhưng bệnh di truyền do microbiome là có thể chữa được, chẳng hạn như bằng kháng sinh và cấy ghép. Do đó, hiểu biết về microbiome không phải chỉ là để ... biết mà quan trọng là để ứng dụng điều tị bệnh cho con người.

 

        Ghi chú về Microbiome:

    Ngoài bộ gen di truyền từ cha mẹ nhiều người cho rằng tập hợp thông tin di truyền mã hóa tất cả các vi sinh vật đang sống hài hòa trong cơ thể chúng ta, gọi chung là các microbiome, tạo thành một bộ gen thứ hai của con người.

     Kết quả công bố trên tạp chí Science của Nelson và cộng sự thuộc Hiệp hội Microbiome quốc tế (International Human Microbiome Consortium) cung cấp thông tin về trình tự bộ gen của 178 loài vi khuẩn ở người. Việc phân tích trình tự bộ gene của tất cả các vi sinh vật cư trú ở cơ thể người (human microbiome) hiện đang thực hiện với mục đích tăng sự hiểu biết về sức khỏe con người và dịch bệnh.

Có nhiều người không đồng ý với lập luận có một bộ gen thứ hai ở người là các vi sinh vật nhưng sự đóng góp của chúng cho cơ thể con người thực sự ấn tượng.

Trong thực tế, tế bào của con người chỉ chiếm 10% tổng số tế bào trong cơ thể, phần còn lại đến từ vi khuẩn cộng sinh. Người ta cũng ước tính rằng ruột của con người chứa khoảng 1.000 loài vi khuẩn. Về mặt khối lượng, khoảng 1,5 kg vi khuẩn xâm chiếm đường ruột của con người với các vi khuẩn khác sống ở các bề mặt bên ngoài và bên trong cơ thể. Về mặt sức khỏe, các phân tử sản xuất bởi các vi khuẩn đường ruột có lợi tạo thành các hợp chất có tác dụng chống viêm, giảm đau, chất chống oxy hóa và vitamin để bảo vệ và nuôi dưỡng cơ thể. Ngược lại, vi khuẩn có hại có thể làm rối loạn các gene trung gian trong quá trình chuyển hóa năng lượng và sản xuất độc tố làm đột biến DNA, ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh và miễn dịch. Kết quả của quá trình này tạo ra các bệnh mãn tính như tiểu đường, béo phì và thậm chí là ung thư. Điều này cho thấy các vi khuẩn cộng sinh liên hệ chặt chẽ và cụ thể với các tế bào của con người trong trao đổi chất dinh dưỡng và chất thải, cấu thành một bộ phận cơ bản và hệ gene tổng hợp của chúng tạo thành bộ gene thứ hai của con người.

     Nếu càng có nhiều chủng vi khuẩn đường ruột được giải trình tự, các nhà nghiên cứu có thể xác định chính xác hơn ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến thành phần của tập hợp vi khuẩn đường ruột nói riêng và về sức khỏe cũng như bệnh tật nói chung. Cụ thể có thể nhận thấy rất rõ chế độ ăn uống là yếu tố chính đằng sau sự gia tăng của chứng rối loạn như tiểu đường, béo phì và ung thư ruột kết. Thật vậy, sau khi cơ thể người đã tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, thuốc, vi khuẩn đường ruột sử dụng bất cứ vật chất còn lại để duy trì số lượng cá thể của chúng. Tuyên bố, "Bạn của bạn là những gì bạn ăn" có thể đúng vì những gì con người ăn có thể xác định loài vi khuẩn và các chủng vi khuẩn phát triển mạnh trong ruột của họ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến các thành phần của bộ gen thứ hai và sức khỏe của con người. Do đó, mặc dù việc giải trình tự tập hợp vi sinh vật ở cơ thể người cực kỳ phức tạp nhưng cực kỳ quan trọng cho sự hiểu biết làm thế nào mà chế độ dinh dưỡng có thể dẫn đến các bệnh mãn tính. Điều này cũng làm nổi bật sự giao thoa cần thiết giữa vi trùng học và di truyền học của con người. Như vậy, giải mã tương tác giữa hai bộ gen của con người có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc mới cho sự phát triển thêm các loại thuốc chống bệnh tật.

    Một số hình ảnh về vi sinh vật đang cộng sinh trong cơ thể người


 

 

 

 

 

 

 

 


 

 Hai chủng vi khuẩn (màu xanh lục và màu xanh dương) trên da người. Rất nhiều loại vi khuẩn sống trên da người đặc biệt là ở tuyến mồ hôi và nang tóc. Một số chủng vi khuẩn có thể gây mụn, song phàn lớn không gây hại.

    Khoảng 500 tới 1.000 chủng vi khuẩn sống trong mỗi cơ thể chúng ta. Số lượng của chúng vào khoảng 100 nghìn tỷ, gấp tới 10 lần số lượng tế báo tạo nên một cơ thể người.



Vi khuẩn Escherichia coli trong hệ tiêu hóa. Chúng có thể gây bệnh tiêu chảy.


Tiến sĩ Roy Sleator, một giảng viên của Viện Công nghệ Cork tại Anh, nói rằng tổng khối lượng vi khuẩn trong hệ tiêu hóa của người lên tới 2 kg.


Hàng trăm khuẩn cầu trên bề mặt một tế bào.


Một nhóm vi khuẩn bơi trong cơ thể người.


Những vi khuẩn hình que và có mao.


Những vi khuẩn có roi ở một đầu. Những chiếc roi giúp chúng di chuyển.


Enterococcus faecalis, một trong những siêu vi khuẩn có khả năng chống thuốc kháng sinh trong một giai đoạn phát triển.


Vi khuẩn Helicobacter pylori trong dạ dày người. Chúng có thể gây bệnh viêm và loét dạ dày.

 

     Khám phá  thế giới vi sinh vật trong cơ thể người cho tâm thể Thày Lang Việt của tôi nhiều điều thú vị. Luận điển Microbiome tôi đánh giá cao vì qua thực tiễn 3 năm chữa bệnh nhiếm HIV ở thành phố Sài Gòn tôi đã nghe được tiếng nói của Microbiome ở ngững người bệnh mà tôi  chữa. Chuyện thú vị này sẽ nói dài vào dịp khác. Chủ đề của chúng ta trong bài viết này là thuốc giải độc cho cơ thể người. Như mọi người đã thấy Tây Y bị bó chặt vào kiến thức Sinh Hóa trong trao đổi chất làm nên sự sống của cơ thể người, gần đây lại phát hiện thấy những quần thể vi sinh vật (Micorobiome) trong cơ thể người nữa nên đòi hỏi một vị Bác Sỹ Nội trú đưa ra một liệu pháp thuốc giải độc cho toàn cơ thể là rất khó khăn. Đến nay chúng ta vẫn chưa thấy Tây Y công bố chính danh loại thuốc đó mà chỉ ẩn danh ở những“Thực Phẩm chức năng” và nói thêm “nó không phải là Thuốc”.


                                                        Phần Hai


       Y Việt Cổ truyền Bàn về thuốc Giải Độc cho toàn cơ thể Người  
 

 

              1 / Chất Độc đối với cơ thể Con người.

        Cùng chung tiếng nói với Đông Y, Việt y Cổ tuyền cho rằng những tác nhân làm rối loạn nhịp sống bình thường của cơ thể Con Người đều được gọi chung là Chất Độc. Tác nhân đó rất đa dạng, chúng có thể là vật chất Hữu cơ (Ký sinh trùng) hoặc Vật chất Vô cơ (Khoáng chất). Tác nhân làm rối loạn nhịp sống bình thường có khi lại là lực lượng phi vật chất làm hủy hoai Sức khỏe tâm thần. Tác nhân đó chính là hệ quả quan hệ xã hội chỉ Loài Người mới có. Một lời nói xúc phạm danh dự, một cái nhún vai cùng nụ cười khinh bỉ cũng có thể gây ra phiền muộn mà sinh bệnh. Bằng kinh nghiệm Sống  thực tế và chữa trị các loại Bệnh truyền từ Đời này qua Đời khác người Việt đã khám phá ra cái gọi là chất Độc nhiễm vào cơ thể sống của Con Người không phải là một đơn chất mà là hiệu ứng phản ứng của cơ thể sống với môi trường sống cụ thể của chính cá thế đó. Sự phản ứng riêng có của các thể với môi trường sống được Việt Y cổ truyền gọi là Cơ Địa của từng người.

      Việt y cổ truyền cho rằng Môi trường sống có hai tầng nấc là Môi trường Tự Nhiên và, Môi trường Xã Hội.

       A/ Nhiễm Độc ở Môi trường Tự Nhiên. Khi cơ thể Con Người không thích ứng được với Môi trường Tự Nhiên mà đổ bênh, Việt Y Cỏ Truyền gọi những hiện tượng đó là  Trúng Phong, (Dân gian thường gọi là trúng Gió Độc).Có 6 loại Khí Độc làm con người người đổ bệnh được ghi lại bằng ngôn ngữ Cổ là: Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Nhiệt (Hỏa).
   A.1. Trúng Phong: Biểu hiện Bệnh ở Cơ thể sống ở thể nhẹ thường hắt hơi liên tục, kế sau dố là nước mũi chảy dầm dề. Nếu không được chữa trị kịp thờ, Bệnh sẽ tiến triển như sợ gió, thậm chí là co giật.
   A.2. Nhiễm Phong Hàn: Môi trường lạnh đột ngột làm mất nhiệt của cơ thể ( Lang Thuốc việt cổ gọi là Dương khí). Người Bệnh sợ lạnh, thích ấm, cơ bắp co cứng, cảm giác toàn thân ứ trệ., không ra mồ hôi, thường có cảm giác đầy tức và có thể bị ỉa chảy nữa.
   A.3. Trúng Thử ( Dân gian thường gọi là say nắng). Thường làm mất cân bằng Âm-Dương. Cơ thể khô kiệt Âm dịch, ngất, hôn mê. Có 2 loại Thử
  -  Thử nhiệt gây sốt cao, ra nhiều mồ hôi, khát nước.
     - Thử Thấp gây rối loạn tiêu hóa, ỉa chảy về mùa hè, Lỵ nhiễm khuẩn vào mùa Đông.
     A.4. Phong Thấp. Cần hiểu thuật ngữ Thấp là cơ thể ở trạng thái ẩm ướt. Thường phát bệnh vào mủa mưa. Biểu hiện bệnh thường ở nửa người phía dưới của cơ thể, bệnh dai dẳng. Bệnh gây cảm giác cơ thể nặng nề cử động khó khăn và có biểu hiện đau vào buối sáng hoặc lúc ngừng vận động. Có biểu hiện phù, bí đái, ra mồ hôi nhiều, lưỡi có rêu dày khác thường. Có 2 dạng Thấp đặc biệt: Thấp Nhiệt gây viêm nhiễm đường tiêu hóa;  Thấp Chấn gây Eczema, cơ thể có vết loét chảy nước nhiều.      

     A.5. Chứng Táo: Là hiện tượng cơ thể thiếu nước Sinh Lý. 60% trọng lượng cơ thể là nước, nếu vì một lý do nào đó làm giảm lượng nước hằng định đó là cơ thể lâm vào tình trạng Táo. Cơ thể bị Táo, lượng tân dịch bị khô kiệt gây thương tổn Phổi, Mũi, Miệng, Họng khô; Da nứt nẻ, Táo bón, Đái són, Ho khan. Chứng Táo thường gây Sốt cao, không ra mồ hôi, khát nước. Táo Nhiệt là Sột cao vào mùa Thu gây Sốt xuất huyết, viêm Não.
     A.6. Chứng Nhiệt (Hỏa). Gây Sốt cao, Sợ Nóng, ra nhiều mồ hôi. Gốc của Bệnh là hợp lưu của các chứng: Phong Hàn, Thấp, Táo tích tụ ở cơ thể bắt gặp nhiệt độ môi trường “nóng khô” trên 400c mà biến thành Chứng Nhiệt. Nhiệt thường bốc lên trên gọi là Tâm Hỏa làm mê man, phát cuồng. Vị Hỏa bốc lên làm sưng lợi chảy máu chân răng. Can Hỏa bốc lên làm đau đầu choáng váng. Chứng Nhiệt còn đưa cơ  thể vào trạng thái Hư Nhiệt: Bứt rứt, cồn cào, tiểu sén, táo bón, thường sốt không cao về chiều và đêm, ra mô hôi trộm, lòng bàn tay bàn chân và vùng ngực nóng ran, ho khan họng khô.
    B/ Nhiễm Độc ở môi trường Xã Hội.  

     Những ngộ độc bởi chấn thương tinh thần do quan hệ Xã Hội gây ra. Việt Y xác định có 7 tình chí:
    B.1. Vui mừng đột ngột gây thương tổn Tim
    B.2. Giận dữ quá gây thương tổn Gan.
    B.3. Buồn phiền quá gây thương tổn Phổi.
     B.4. Lo lắng quá gây thương tổn Dạ Dày.
     B.5. Ưu tư quá gây thương tổn Dạ Dày.
     B.6. Sợ sệt quá gây thương tổn Thận.
     B.7. Hoảng hốt quá gây thương tổn Thận.
   C. Nhiễm độc do ăn uống
     C.1. Ăn quá no gây rối loạn tiêu hóa ( các thày Lang gọi là thực tích).
      C.2. Ăn nhiều thắc ăn chưa nấu chín, lạnh, ôi thiu làm tốn thương Thượng Vị và Dạ Dày.
     C.3. Ăn nhiều thức ăn béo, ngọt làm phát sinh chứng Nhiệt, chứng Thấp.
     C.4. Ăn thiếu gây chứng Âm hư, Huyết hư.
     D. Nhiễm Độc do Lao Động không đúng cách.
     D.1. Người Lao động trí óc không vận động cơ bắp thường gây ra Khí, Huyết trì trệ làm phát sinh nhiều bệnh: thoái hóa Xương khớp, các bệnh về Tim mạch…
     D.2. Lao động quá sức (kể cả lao động chân tay và lao đông Trí não) sinh bệnh Lao Lực.
     D.3. Lao động không an toàn, không hợp vệ sinh là phát sinh bệnh do nghể nghiệp.
      C. Nhiễm Độc do tiết dục không đúng phép vệ sinh.
      Hội chứng thường gặp, Việt Y Cổ truyền gọi tên là Bệnh Phạm Phòng. Vì nhiều biểu hiện Bệnh có cùng nguồn gốc nên gọi là Hội Chứng.
      - Biểu hiện “Động cỡn”. Bệnh  thường gặp của người ở giai đoạn tuổi Dậy Thì. Do không được giáo dục kiến thức vệ sinh tình dục đúng cách nên đến thời điểm cơ thể tiết hóc môn sinh dục người mới lớn rơi vào hoảng loạn ngỡ ngàng khi thấy cơ thể có nhu cầu giao cấu. Do bản năng mách bảo số đông người đến tuổi dậy thì thường thủ dâm ( dùng ngón tay tác động vào cơ quan sinh dục tạo khoái cảm giao hợp). Có những bé gái do lượng hóc môn sinh dục tiết quá nhiều một thời điểm đã gây ngộ độc hóc môn làm phát chứng điên tình ( Dân gian gọi là động cỡn).
     - Chứng nghiện giao cấu. Do quá trình tiết dục đã gây khoái cảm nên một số người đã nghiện tiết dục sinh chứng cuồng dâm. Những người này cả Nam và Nữ thường bị dẫn dụ tham gia vào thị trường Mại Dâm.
    Trên đây là liệt kê nhưng trường hợp nhiễm độc của cơ thể người theo kinh nghiệm của Việt Y Cổ truyền. Việc xác định nguồn gốc nhiễm độc có một ý nghĩa rất quan trọng cho công việc giải độc. Điểm đặc sắc của việc xác định ngồn gốc nhiễm độc của Việt Y cổ truyền là đã sớm nhận ra tác nhân gọi là chất độc đó luôn luôn là đa chất chứ không bao giờ là đơn chất. Hoàn cảnh nhiễm độc đã xác định được chủ yếu do phản ứng đối nghịch của cơ thể  với  các tầng nấc Môi trường đang sống.
             2/ Phương pháp phát hiện cơ thể bị nhiễm độc và liệu pháp xư lý
 của Việt Y cổ truyền.
    Nằm trong dòng Y học Đông Phương, Y Việt cũng tận dụng những phương pháp Chẩn Đoán bệnh của Đông Y là: Vọng (nhìn); Văn (nghe); Vấn (hỏi) và  Thiết chấn ( Mạch chẩn). Tuy nhiên, những kiễn thức đó chỉ có giá trị tham khảo, Y Việt có riêng Hệ quy chiếu Chẩn Bệnh,đó là:
     ”
 Khám bệnh khi “Nhân hoạt” tức làm khám bệnh khi người bệnh đang hoạt động. Thầy lang dân gian thường khám bệnh tại nhà bệnh nhân, bệnh nhân được khám trong trường hợp đang hoạt động. Những hoạt động đó không vượt quá ngưỡng gắng sức của con người như: làm việc vặt trong gia đình; quét nhà; giặt quần áo, nấu ăn, học bài. Để hiểu rõ tình hình thần kinh của bệnh nhân trong tình hình hiện nay ở Xã hội hiện đại thầy thuốc còn mang đến nhà bệnh nhân những phim truyện hay và cùng xem phim với bệnh nhân lôi cuốn bệnh nhân cùng phê bình phim với thầy thuốc. Có thể còn đánh cờ với bệnh nhân nữa. Đã gặp bốn trường hợp qua cách khám này tôi thấy họ không bị nhiễm HIV. Khi nói cho bệnh nhân nhận xét này bệnh nhân không tin. Sau thuyết phục bệnh nhân đi khám lại ở hai cơ sở y tế Nhà nước khác nhau bằng “Cửa trước” thì rõ ràng kết quả là âm tính. Người bệnh nhận án nhiễm HIV đã bốn năm nhưng lần đi khám trước là đi “Cửa sau”.

     Toàn bộ sức khoẻ của con người bộc lộ qua hành động. Trong thuật khám bệnh nhân hoạt, y học dân gian chú ý đến nhiều nhất là người bệnh sử dụng đôi mắt như thế nào, ăn uống ra sao. Người phương Tây ví đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, còn y học dân gian “bám” vào đôi mắt để khám bệnh là dựa vào toàn bộ sự đánh giá của dân gian vào đôi mắt. Con người không thể che dấu được tình cảm thật qua ánh mắt mặc dù trong hành động thực tế lại không phản ánh đúng tình cảm thật của họ. Người xưa, kín đáo trong tỏ tình: khi giai gái yêu nhau thật sự nhưng giữa đám đông họ thường không ở bên nhau mà lại là “Yêu nhau đứng ở đằng xa, con mắt liếc lại bằng ba đứng gần”. Cái con mắt liếc lại đó đã được y học dân gian sử dụng như một thiết bị khám bệnh tổng thể rất tinh vi mà có lẽ còn lâu khoa học hiện đại mới chế tạo được một thiết bị có công năng tuyệt vời đến như thế.

     Ngày nay trong xã hội hiện đại con người đã bị nhiễm phải “Virut nói dối”, nghĩ ngược nhưng nói xuôi. Nhưng với ánh mắt thì virut nói dối không xâm nhập được. Tất nhiên, với những người lưu manh chuyên nghiệp và những người có bản lĩnh cao thì ánh mắt đã được điều khiển, song sự điều khiển nhân tạo đó vẫn không thể thắng nổi từ trường điện sinh học tự nhiên tạo ra ánh mắt. Anh mắt “nhân tạo” vẫn dài dại không khôn như ánh mắt thật. Để kiểm tra hệ thống tiết hoóc môn tự động trong cơ thể người nhiễm HIV/ AIDS y học dân gian chỉ cần qua thiết bị “Con mắt liếc lại” là đọc được bệnh. Căn cứ vào cơ chế tự động tiết hoóc môn được diều khiển từ hệ thần kinh sinh dưỡng mà hệ thần kinh điều khiển không tác động được để nhận biết tình trạng tiết hoóc môn ở người bệnh. Một người đàn ông cơ thể ở trạng thái bình thường bất chấp tuổi tác, địa vị xã hội, tính khí bốc lửa hay mô phạm nhưng khi nhìn thấy một người đàn bà đẹp dù tinh vi đến mấy thì ánh mắt của con người ấy cũng phải dừng lại trên thân hình của mỹ nhân. Nếu thấy mỹ nhân mà dửng dưng thật sự, người đàn ông đó đang có bệnh mà có thể là bệnh nặng. Người đàn bà cũng thế kể cả khi đã tắt kinh, phụ nữ tuy có kín đáo hơn nhưng cũng không thể cưỡng được phản ứng tự động của hệ thần kinh dịch thể. Tất nhiên tổ tiên ta chưa biết đến hoóc môn là gì – mà loài người cũng mới biết đến nó gần 100 năm nay thôi. Diễn giải bằng ngôn ngữ Tây y để dễ thảo luận. Những người nhiễm HIV khi chưa ở giai đoạn toàn phát thường có hai biểu hiện trái ngược nhau, đàn ông thường bị liệt dương, còn phụ nữ lại có hiện tượng ngược lại.
    Ăn là hành động tiêu hoá bình thường. Nhưng khi ăn cơ thể con người vận dụng hầu hết các giác quan: thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và cả thính giác. Một bữa ăn ngon với con người có trình độ văn hoá cao là phải thoả mãn được tất cả các nhu cầu của các giác quan đó. Ăn trở thành một đại khoái cảm là vì thế.Bữa ăn là một niềm vui cuộc sống. Bữa ăn ở tất cả các dân tộc trên thế gian này đều được coi là biểu hiện của hạnh phúc gia đình. Tổ tiên ta khám bệnh qua quan sát hành vi ăn là căn cứ vào tổng kết của dân gian, coi đó như là một chỉ số hằng định: nam thực như hổ, nữ thực như mưu. Tiêu chuẩn này không chỉ thể hiện cốt cách của giới người mà còn là một chỉ báo của cơ thể người ở trạng thái bình thường. Thực như hổ không có nghĩa là ăn nhanh không nhai kỹ. Bạn đã thấy hổ ăn chưa? Khi chưa nhai kỹ hổ chưa nuốt thì nó chưa ngoạm miếng thứ hai. Nhưng thái độ ăn dứt khoát tập trung và vần tỏ được khí phách của chúa sơn lâm khi dùng bữa.
    Tổ tiên ta luôn đòi hỏi người đàn ông làm trai cho đáng nên trai, nên ngay từ nết ăn cũng phải rất đàn ông. Người đàn ông nào khi ăn không toát ra cốt cách thực như hổ là có bệnh. Bệnh được phát hiện qua hành động ăn thường dễ thấy do rối loạn tiêu hoá cơ thể mệt mỏi ăn không ngon miệng nhưng có một loại bệnh kín mà chỉ qua khâu ăn là phát hiện được bệnh. Nếu người đàn ông nào khi ăn lại có biểu hiện thực như miu thì người đó có nguy cơ rối loạn hoóc môn và hoóc môn nữ tính trội hơn, đây là một chỉ báo của bệnh ái – ái nam ái nữ. Đối với phụ nữ cũng vậy nết ăn như miu không chỉ là sự ví von khiên cưỡng mà là sự quan sát thực tế rất nhiều đời. Con mèo dùng bữa rất ít và ăn chậm nhưng nó lại hay ăn vặt bằng cách săn bắt chuột. Có lẽ thói quen hay ăn quà vặt của người đàn bà hồi xưa mà cổ nhân chọn đó làm tiêu chuẩn sinh học hằng định qua hành vi ăn của phụ nữ. Con gái mà ăn nhanh, nhồm nhàm, ăn hùng hục là mất nữ tính, đó cũng là một chỉ báo rối loạn hoóc môn nam tính trội. Những người đàn bà này dễ mắc bệnh ái nam. Còn một chỉ báo bệnh chung cho cả hai loại người: “Ăn như rồng cuốn nói như rồng leo, làm như mèo mửa”. Đây là đích thị hội chứng của bệnh lười. Bệnh lười là một bệnh xã hội mãn tính. Thuốc chữa bệnh lười rất công hiệu là không cho ăn nữa, để: “Đói bụng đầu gối phải bò, no ăn ấm bụng chẳng dò đi đâu”.

     Ngôn y Dân gian tài tình thế đấy. Chuẩn của một bệnh xã hội mãn tính là bệnh lười mà đặt ba khâu quan trọng nhất thể hiện nhân cách: ăn, nói, làm liền nhau và đối nhau chan chát vừa mô tả đúng bệnh lại đồng thời cho văn học một hình tượng về một nhân cách chẳng ra gì đó là: lười.

     Thầy thuốc Dân gian phải khám bệnh qua quan sát bệnh nhân ăn mới thực sự nắm được cái gốc của bệnh tật. Quan sát bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS nhận thấy có một sự rối nhiễu của hệ thần kinh sinh dưỡng, đồng thời tác động đến cả hệ thần kinh dịch thể khiến cho khi có cảm giác đói nhưng khi ăn lại không ngon miệng, không tìm thấy niềm vui trong ăn uống. Đối với các bệnh nặng nhưng chưa phải là nan y thì chỉ qua khâu khám khi nhân hoạt là đã đủ cơ sở để luận trị bệnh. Đối với các bệnh nan y nan đoán như HIV/ AIDS chẳng hạn thì phải khám hai khâu nữa là khám bệnh khi “Nhân tình” và khám bệnh khi “Nhân tĩnh”.

   Y thuật khám bệnh khi “Nhân tình”. Nhân tình là cách nói gọn chỉ con người ở trạng thái tỏ tình. Tình cảm của con người muôn vẻ nhưng được nhóm lại ở các trạng thái: khi con người tỏ tình yêu; khi con người tỏ tình buồn; khi con người tỏ tình vui và khi con người tỏ tình tức giận; khi con ngưòi khinh bỉ; khi con người suy nghĩ; khi con người lo lắng; khi con người sợ hãi; khi con người hốt hoảng. Các nhà Nho quen diễn đạt bằng quy nạp, gọi các trạng thái này là Tình cảm (Tình tứ) và Tình Chí (Chí tình). Tình Tứ, có 4 loại: ái (yêu), ố (ghét), hỉ (mừng), nộ (giận giữ). Tình chí có 5 loại: Ưu (lo lắng); Suy nghĩ (Tư duy); bi (buồn), Bỉ (khinh bỉ ); Khủng (hoảng hốt, khủng hoảng). Trung Y cũng có 7 loại tình chí là: Hỉ; Nộ; Bi; Ưu; Tư; Kinh; Khủng. Trung Y không đề cập đến tình yêu trong chữa bệnh. Ngược lại, Y Việt phát hiện nhiều bệnh nặng trong tình Yêu có thể gây chết người, đó là: Xi mê; Ghẻ lạnh; Ghen tuông; Đố kị; Hận; Thù. Sáu loại bệnh này được gọi gộp là bệnh “Tự ái”. Vì tự yêu mình quá mà sinh bệnh mù quáng, cần được chạy chữa bằng uống thuốc “Dưỡng Tâm”; “Định thần”, “Tĩnh trí”, kết hợp với các liệu pháp vật lí và tâm lí. Một thời, người ta đã chính trị hóa bệnh tự ái, với tên gọi là “Chủ nghĩa cá nhân - một  thứ bệnh của Giai cấp bóc lột”. Cách chữa cũng dùng “Chính trị khan”, bằng giáo dục tư tưởng với lời kêu gọi nổi tiếng “Quét sạch Chủ nghĩa cá nhân!”, Bệnh không khỏi mà còn có nguy cơ truyền nhiễm như một loại dịch trầm kha!

     Y học dân tộc cổ truyền luận trị bệnh Tình qua các thủ thuật làm cho cá thể tỏ tình để bộc lộ toàn bộ thể trạng tinh thần kinh. Nhờ cách khám bệnh này y học dân gian đã nhìn được HIV thâm nhập  vào người bệnh ở từng mức độ khác nhau chính xác hơn cả việc “chiếu điện” bằng các thiết bị tối tân.

     Khám bệnh khi nhân tình thầy lang cần có sự giúp sức của người thân bệnh nhân và thầy lang phải có một kịch bản: diễn viên của vở kịch này là những người thân của bênh nhân, còn bệnh nhân bị cuốn vào vai chính mà không biết nên diễn xuất rất thật với thực trạng bệnh tật của cơ thể và thầy lang quan sát ghi lại các diễn biến đó có lẽ còn chính xác hơn cả chụp điện cắt lớp. Các diễn viên phải diễn làm sao để bệnh nhân tỏ tình thực sự. Các trạng thái vui buồn tức giận rạo rực và súc động trong tỏ tình, là những biểu hiện sinh động của trạng thái cơ thể.

     Khi con người tỏ tình thì không chỉ hệ thần điều khiển hoạt động mà cả hệ thần kinh sinh dưỡng; hệ thần kinh dịch thể (Hoóc môn) đều bị cuốn vào những cuộc tình này. Bệnh nhân đang cười sặc sụa bỗng dừng lại tay ôm lấy tim. Đó là chỉ báo tim rất yếu. Bệnh nhân tức giận thở hổn hển mặt tái mét rồi chuyển sang đen xạm đó là chỉ báo phổi rất yếu không cung cấp đủ ô xy cho hồng cầu. Khám bệnh qua nhân tình đã soi sáng, giải thích giống như một sự giải mã những động tác ghi nhận được khi khám bênh qua nhân hoạt. Đối với người bệnh nhiễm HIV/ AIDS thì ba trạng thái tỏ tình, ái, ố, huỷ rất mờ nhạt: lạnh nhạt trong tình yêu; mù mờ trong nỗi buồn và cười không rõ nét. Còn yếu tố “nộ” thì lại quá mức bình thường. Hầu như tất cả sự tức giận của người nhiễm HIV đối với cuộc đời này đều trút vào cái sự kiện đang trực tiếp gây tức giận cho họ. Đây là một chỉ báo xã hội vô cùng quan trọng khi mọi người tiếp xúc với người nhiễm HIV. Con người này nếu bị kẻ xấu lợi dụng sẽ là những trái bom di động được nổ bằng sự khích động liều chết.

     Cách khám bệnh Tình hiệu quả nhất là Hoạt cảnh “Lên Đồng”. Y học cổ truyền nhờ đúc kết những quan sát thực tế nhiều đời đã sáng tạo ra cách khám bệnh vô cùng độc đáo hấp dẫn đó là Lên Đồng. Thầy Lang dân gian trong vai trò Cốt Đồng, áo quần có màu sắc rực rỡ múa lượn như bay trong làn điệu hát Chầu Văn có dàn nhạc đệm thánh thót giữa một không gian ánh đèn sáng lóa, khói hương nghi ngút thơm lừng đã đưa Con Bệnh vào  tâm thế mê li, “không trong lượng” làm bộc lộ toàn bộ thực trạng sức khỏe. Cốt đồng quan sát và dẫn dụ khiến con bệnh ở trạng thái bị thôi miên, nhập đồng ! Đánh Đồng Thiếp là thế đó.

     Người bệnh khi nhập Đồng sẽ quay về thế giới huyền ảo và nói ra lời những suy nghĩ âm thầm tích chứa ở trong lòng chưa bao giờ nói ra lời. Thậm chí còn nói ra cả những lời trong quá trình sống  thường tưởng tượng được nghe lời của người thân đã chết tâm sự với mình. Thầy Lang trong vai Cốt Đồng nhập vai tốt sẽ đạt mức “bốc đồng“ có cảm giác đã hòa nhập vào suy tư cùng “pha” với con bệnh, thu lượm được rất nhiều thông tin về diễn biến bệnh của Con bệnh. Người Việt Cổ đã biết dùng nghệ thuật múa kết hợp với nghệ thuật âm nhạc để chữa bệnh. Tổ tiên ta tài hoa xiết bao! Lợi dụng hiện tượng này những người lưu manh chuyên nghiệp ở thời nào cũng có đã dùng thuật lên đồng gọi hồn, lừa bịp người nhẹ dạ cả tin để vụ lợi.

      Khám bệnh khi nhân tĩnh: Con người ở trạng thái tĩnh tại nhất là ngủ. Khi ngủ thực chất chỉ có hệ thần kinh điều khiển nghỉ ngơi thôi, còn 80.000 tỷ tế bào vẫn hoạt động theo Chương trình chuyển hóa. Chương trình chuyển hóa đó đã dược lập trình cho mỗi tế bào và chịu sự điều hành của Hệ thần kinh Sinh Dưỡng có sự phối hợp với Hệ thần kinh dịch thể, để cơ thể ngay trong khi ngủ vẫn thích nghi được với môi trường sống ngoài cơ thể.

     Bằng kĩ thuật “Nguyên tử được đánh dấu” khoa học hiện đại đã nhìn thấy: cứ sau 180 ngày có tới 50% phân tử Protein ở tế bào người được đổi mới hoàn toàn; cứ qua 60 ngày có 23.000 tế bào Hồng cầu được thay mới; Ở Gan sự đổi mới Protein toàn diện hơn, nhanh hơn: chỉ có 18 ngày. Cứ sau 24 giờ 5.000 tỷ tế bào trong cơ thể được “miễn nhiệm” và cũng có từng đó tế bào mới “kế nhiệm”! Sự đổi mới trong cơ thể người diễn ra liên tục, nhưng phần lớn thời điểm diễn ra Hoạt cảnh “từ chức và kế nhiệm“ là khi ta ngủ.

     Hệ thần kinh sinh dưỡng có hai hệ là hệ giao cảm và đối giao cảm đối lập nhau và tác động vào nhau tự động hoạt động để điều hoà hoạt động của các cơ quan nội quan không cần tác động của ý thức con người. Chính vì lẽ đó việc thay cũ và đổi mới trong cơ thể rất “khách quan”, không bị nạn “ô dù, bề cánh” khuynh đảo. Nếu sự chuyển hóa không “thông Đồng, Bến dọt”, một bộ phận nào đó của cơ thể không chịu đổi mới, cố giữ lại những tế bào đã “hết hạn sử dung”, lập tức “Chương trình đổi mới bị ùn tắc“, bệnh tật đều phát sinh từ sự trì trệ này mà ra. Toàn cơ thể khi đó lâm vào tình trạng suy nhược; nếu không chạy chữa sẽ tuần tiến đến suy kiệt, dẫn tới ngừng chuyển hóa, tức là Chết!

     Điều kì thú là không phải tất cả các loại tế bào đều bị thay thế, có nhiều loại tế bào được lựa chọn không bao giờ bị thay đổi, Sinh - Y gọi là tế bào đó đã biệt hóa, tức không phân chia ngay từ khi hình thành ở trong phôi, bền vững suốt đời, như các tế bào thần kinh (nơron), Có những loại tế bào, phát triển đến ngưỡng cơ thể đã trưởng thành thì ngừng phân chia và đi vào biệt hóa, như: các tế bào cấu tạo nên quả tim; phổi; xương; gan; các tế bào xương đã  được cốt hóa. Tuy không bị thay thế về chức vị (cấu hình hệ thống), nhưng Protein cấu tạo nên tế bào đó vẫn luôn được đổi mới, tức là nó vẫn phải có sức trẻ. Gan là một ví dụ điển hình: Các tế bào Gan đã được biệt hóa, tức là không phân chia nữa, nhưng tốc độ đổi mới Protein ở Gan rất cao. Quan sát chuyển hóa tự nhiên ở cơ thể người cho ta  một mô hình tuyệt vời về nghệ thuật tổ chức bộ máy và việc sử dụng “cán bộ” đan xen giữa cán bộ Già và Trẻ bảo đảm tính kế thừa vững chắc và cách tân liên tục của sự sống. Phải chăng sự hiện diện của cơ thể sống là một mách bảo, một mẫu hình giúp loài người tổ chức xã hội đúng đắn nhất? Nếu con người không nhận ra sự mách bảo đó, tự cho mình giỏi hơn tự nhiên, tổ chức bộ máy quản lí xã hội khác đi, lập tức bị trừng phạt. Sự trừng phạt đó chính là khủng hoảng xã hội và mẫu hình tổ chức bộ máy quản lí xã hội trái với tự nhiên đó dù có duy trì hàng trăm năm vẫn bị tan rã. Phải chăng căn bệnh không chấp nhận đổi mới là do không hiểu lẽ đời đã dẫn tới thảm họa suy vong của những dân tộc đã có thời chói sáng trong lịch sử Nhân loại? Đây không phải là câu hỏi lạc đề của một lang thuốc đang bàn về y thuật cổ truyền trong khám bệnh. Bởi lẽ, cả nhà Chính khách và thầy Lang đều có bổn phận chạy chữa các căn bệnh không chỉ ở con người sinh học mà cả con người xã hội  đều mắc phải. Cả Ngài Chính Khách và Thầy Lang đều có thể tìm thấy lẽ đời đang tích chứa trong  Sinh - Y học.

     Bằng trải nghiệm thực tế sống nhiều nghìn năm, tổ tiên người Việt đã nhận ra cái mà các cụ gọi là “Thiên Cơ”, dân gian gọi là lẽ đời đó đã ẩn chứa trong cơ thể người mà hình thành nên cách khám bệnh khi nhân tĩnh chăng? Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, khám bệnh khi nhân tĩnh chính là tầm soát quá trình chuyển hóa vật chất trong cơ thể sống.

     Ý thức của con người là một trở ngại rất lớn cho các thầy thuốc khám bệnh; đặc biệt rất khó với thầy lang dân gian. Khám bệnh trong khi bệnh nhân thức, ý chí của con người hoạt động. Vì một lý do nào đó, người bệnh không trả lời đúng thực tế tình trạng sức khoẻ cho thầy thuốc biết, mà còn gây rối cho thầy thuốc. Khi thầy thuốc lấy tay ấn mạnh vào một huyệt đạo nào đó để thăm bệnh, gây đau nhưng bệnh nhân lại nói không đau. Khi mới chỉ đưa tay lướt nhẹ trên da lại kêu toáng lên là rất đau.

     Thầy lang dân gian khi phải khám bệnh cho người bệnh là trí thức, đặc biệt khó hơn khi vị trí thức bệnh nhân đó lại là chuyên gia của y học bác học. “Cái bẫy” của các vị bệnh nhân này giăng ra là để kiểm chứng năng lực thực sự của thầy lang dân gian. Nếu chỉ khám bệnh cho đối tượng này theo y thuật của y học bác học thì lang ta cầm chắc là đo ván. Nhưng khi tiến hành khám bệnh đồng bộ: Nhân hoạt, nhân tình, nhân tĩnh thì các bẫy kia dù tinh sảo đến mấy cũng bị hoá giải.

     Công cụ để lang thuốc dân gian hoá giải được các bẫy do đồng nghiệp gây ra lại chính là đôi mắt. Mắt là cái nhìn trực diện của não bộ. Khi đồng tử mở rộng là chụp hình, khi đồng tử thu hẹp là thu hình. Nếu nói đúng những điều người nghe chờ đợi thì đồng tử thu hẹp, nếu nói không đúng những diều người nghe mong đợi thì đồng tử mở rộng hơn (Dân gian gọi là trố mắt ra). Tất nhiên không thể lúc nào cũng nhìn thấy nhịp đóng mở của ống kính mắt mà có một cơ mắt chỉ báo hiện tượng này đó là cơ chân lông mày. Lông mày giãn ra là đồng tử mở rộng. Lông mày nhíu lại là đồng tử thu hẹp. Đây cũng là nguyên lý cơ bản để thực hiện thuật dẫn trí.

     Thuật dẫn trí rất phức tạp nhiêu khê nhưng cơ bản là làm sao cho người bị dẫn trí có cơ chế đóng mở đồng tử khớp theo nhịp đóng mở của người dẫn trí. Dẫn trí đến đỉnh cao là người dẫn trí nghĩ gì, muốn làm gì thì người bị dẫn trí cũng có suy nghĩ tương tự như thế và hành động theo người dẫn trí. Tuy nhiên dẫn trí chỉ có tác dụng khi người bị dẫn trí suy nhược hệ thần kinh điều khiển. Thuật dẫn trí nhằm mục đích giúp người bệnh không hoảng hốt, cô đơn trong chữa bệnh.

     Thuật dẫn trí được y học dân gian sử dụng để chữa trị cho người mắc bệnh tâm thần và chỉ có tác dụng khi hệ thần kinh điều khiển của người đó bị tê liệt. Khi hệ thần kinh điều khiển được hồi phục thì thuật dẫn trí vô nghiệm.

     Khi con người ngủ, hệ thần kinh điều khiển cùng các công cụ nghe nhìn, ngửi (Ngũ quan) ngủ, hệ thần kinh sinh dưỡng tự nó điều khiển cơ thể sống, thầy thuốc dân gian nhờ kinh nghiệm gia truyền gần như nhìn thấy toàn bộ nội quan hoạt động. Chỉ cần nghe hơi thở là biết tất cả các cơ quan có hoạt động nhịp nhàng hay đang vướng rối ở nơi nào. Qua hơi thở thầy thuốc thấy như “Máu reo” trong cơ thể.

     Nếu cơ thể không bị nhiễm trùng, hệ bạch mạch thông suốt máu reo như tiếng gió ở trời thu. Nếu cơ thể nhiễm trùng thì không nghe thấy tiếng reo nhẹ nhàng mơ hồ đó mà như thấy có sỏi sạn đang lộn sộn ở mạch huyết.

     Động tác cuối cùng để hội chẩn y thuật khám bệnh khi nhân tình là kiểm mộng. Bệnh nhân ngủ dậy ngồi chơi nói chuyện với thầy lang. Thầy lang từ từ hỏi bệnh nhân những giấc mộng thường gặp trong khi ngủ mười ngày gần đó. Người nhiễm HIV giai đoạn đầu thường kể lại rất rõ những giấc mộng trong mười ngày qua. Nếu đúng nhiễm HIV thật thì các giấc mộng gần như lặp lại, tuy không giống y nhau nhưng cốt chuyện giống nhau: như gặp người thân từ thời thơ ấu. Thậm chí còn gặp cả những người thân đã chết khi người bệnh chưa ra đời mà chỉ nghe bố mẹ kể lại, hoặc bị kiến đậu khắp người nhưng không cắn...

     Những người bị nhiễm HIV/ AIDS giai đoạn cuối cứ đặt mình ngủ là thấy ác mộng, hình ảnh thường gặp giống như những con ma trong phim ma của nước ngoài. Họ sợ hãi đến mức không dám ngủ, đó chính là nhân tố thúc đẩy bệnh trầm trọng thêm. Dựa trên cơ sở nào mà cổ nhân dùng y thuất định mộng để luận trị bệnh?

     Qua nghiên cứu, bí mật của giấc mộng có thể tóm lược như sau:
      Hệ thần kinh sinh dưỡng không phải là yếu tố duy nhất, bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nội tạng. Các hoóc môn, sản phẩm của tuyến nội tiết cùng tham gia vào công việc này. Cũng cần nói rõ rằng việc điều tiết các hoóc môn phần nhiều là sự điều phối của hệ thần kinh sinh dưỡng, nhưng hệ thần kinh sinh dưỡng cũng lại chịu sự tác động trở lại (Feed back) của các hoóc môn tới một tuyến ở tận “Trung ương”  đó là tuyến yên nhỏ bằng hạt đậu trắng nằm ở nền sọ, có liên quan đến vùng dưới đồi thuộc não trung gian.

     Hoóc môn tiết ra từ tuyến yên kích thích các tuyến khác tiết hoóc môn để kìm chế hoạt động thái quá ở một bộ phận nào đó của cơ thể. Tuyến yên nhận từ các hoóc môn những tin hoá học ở các tế bào trong cơ thể gửi về (Hoóc môn là một chất đưa tin) để kích thích tuyến yên phát ra các tín hiệu đến các tuyến ngoại vi. (Hệ thống thần kinh – hoóc môn này đã là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu trong những thập niên cuối thế kỷ 20). Hệ thống này liên tục cung cấp thông tin cho tuyến yên nằm trong não bộ kể cả lúc con người ngủ.

     Các thông tin hoá học từ các tế bào gửi về tuyến yên kết hợp với những thông tin khác não thu được qua máu lưu thông từ các dịch bào trung gian (Cytokiens - từ các tế bào tiết ra, từ gan...). Tất cả các thông tin mà não mới thu được trong giấc ngủ, kết hợp với các thông tin trong các bộ nhớ đã tạo ra đời sống thứ hai (đời sống ảo) cho người khi ngủ – đó là giấc mơ.

     Cho đến nay, giấc mơ vẫn còn là bí ẩn vì có rất nhiều chủ thuyết nhưng chưa được các nhà bác học đồng thuận. Qua kinh ngiệm khám chữa bệnh bằng y thuật định mộng và kiểm định ở chính bản thân cho rằng: Cơ chế đưa tin của tuyến hoóc môn và dịch bào trung gian chính là chất kích thích làm các kỷ niệm trong bộ nhớ của não chuyển động. Người khoẻ mạnh có sức đề kháng lấn át sức công phá của vi trùng, các thông tin trong cơ thể thuần tính người nên có mộng đẹp. Cơ thể nhiễm trùng độc hại có ác mộng vì bản thân ký sinh trùng (run, sán, vi khuẩn, vi rút) cũng là chất đưa tin. Phải chăng những ảnh ảo quái dị trong ác mộng chính là thông tin do ký sinh trùng phát ra để làm nhiễu mạch tin trong cơ thể người? Phải chăng những thông tin đó là phiên bản do chúng gửi tới não bộ người? Y học dân gian coi ác mộng là một chỉ báo, rõ nhất về cơ thể bị nhiễm Tà Trùng độc hại.

     Sau y thuật định mộng, quy trình khám bệnh của y học dân gian kết thúc vì đã có thể đọc được bệnh ở cơ thể người mắc bệnh, Bằng kỹ thuật khám bệnh riêng có của mình, Việt Y cổ truyền nhận diện rất chính xác tình trạng nhiễm độc của cơ thể và thông qua “Bộ Chuẩn Tổng Họp” để  quyết định liệu pháp giả độc. |Bộ chuẩn tổng hợp để định bệnh đó là:”  “Đại tứ khoái”, gồm có: Ăn; Ngủ: Làm tình và bài tiết. Thiếu một trong bốn khoái cảm đó là có bệnh. Cơ thể không còn bốn đại khoái cảm nữa là “Cận tử” rồi.

     Cổ nhân cho rằng: Dù là người cao sang, thông tuệ cho đến người hèn yếu đều có chung khoái cảm sinh lý nói trên, vì nó thuộc về bản vị. Còn những khoái cảm tinh thần thuộc về nhân vị, sản phẩm của lí tưởng – niềm tin, biến ảo khó lường nên không phải là nơi căn bản của cơ thể sống. Do đó, mọi bệnh tật phát sinh trong cơ thể người đều do Tà hoặc trùng đã ám vào đại tứ khoái mà sinh ra. Chữa bệnh là trục tà cho "Đại tứ khoái". Khôi phục đủ “Đại tứ khoái” cho cơ thể là con người khỏi bệnh.

     Ăn: Khoái cảm lớn nhất, đói mà được ăn. Những người nghèo đói không được ăn, không có khoái cảm ăn. Ngược lại người giàu có cần ăn thức gì có thức đó và thường có cảm giác ăn không ngon miệng, mất khoái cảm ăn. Cả hai loại người này đều thấy ăn không ngon miệng khi cơ thể bị ốm. Tìm ra bệnh là mang lại khoái cảm ăn là đã chữa đúng bệnh. Có khi chỉ một bát cháo hoa hay một bữa cơm là cũng đã chữa khỏi bệnh.

     Ngủ: Ngủ là nhu cầu tự nhiên của con người. Khoái cảm của ngủ là ngon giấc không mộng mị, nếu có mộng thì là mộng đẹp. Ngủ dậy thấy khoan khoái dễ chịu thì đó là khoái cảm của ngủ. Giấc ngủ không được như mô tả ở trên là có bệnh. Mất ngủ, ngủ ít (Tối thiểu 8 giời ngày) ngủ không ngon giấc, tỉnh rồi lại thiếp đi, mộng mị lộn sộn, nửa thức nửa ngủ. Không ngủ nữa thức dậy thấy mệt mỏi, chán trường, là cơ thể đang có bệnh. Tìm ra bệnh chữa trị bệnh đưa lại giấc ngủ ngon và lành là khỏi bệnh.

     Làm tình: Y học dân gian coi khoái cảm trong làm tình là biểu hiện đồng bộ, toàn diện sức khoẻ của một con người. Cuộc tình đến ngưỡng cao trào nó làm rung động toàn cơ thể, bởi vì toàn bộ các hệ thống các cơ quan nội quan trong con người đều xúc động. Cảm khoái đó khiến các nhà Nho vốn nổi tiếng là nhã cũng không kìm nén được phải thốt ra lời: “đại khoái hĩ !”. Một con người không cao hứng trong cuộc tình, hoặc lâm vào tình cảnh “trên bảo dưới không nghe”, hoặc lãnh đạm với nhu cầu giao hợp là có bệnh. Người phụ nữ đã tắt kinh vẫn có nhu cầu tình dục. Với người đàn ông nhu cầu đó đi mãi suốt cuộc đời. Dân gian nói hình ảnh rằng: Chỉ khi nào cắt đầu gối không có máu chảy  thì mới hết nhu cầu làm tình.

     Bài tiết:  Đại tiểu tiện thông suốt tạo cho ta khoái cảm như một sự giải thoát. Đại tiện chỉ cần hai lần phóng là hết phân, cơ thể thấy nhẹ bẫng, là khỏe mạnh. Đại tiện vất vả phải lực dặn, phân ra lai dai, ngồi nhà cầu lâu, có cảm giác nóng ở lỗ thải phân, phân mỏng nát và có mùi thối khẳn là cơ thể đang có bệnh không chỉ ở đường tiêu hóa mà từ gan đã có chuyện lâm nguy, hiện tượng ỉa té tức là bệnh đường ruột cấp tính; ỉa té mà không đái là chỉ báo đã bị nhiễm vi khuẩn tả. Ỉa té mà vẫn đái được thì đó chỉ là rối loạn tiêu hóa bình thường không phải nhiễm vi khuẩn tả, đừng quá lo! Đi tiểu vất vả, đường liệu phóng yếu, không gây được tiếng re re do ác lực phóng liệu là cơ thể yếu. Đái xón, đái dắt, dòng liệu ngừng nhưng vẫn chưa hết cảm giác mót, đứng một lúc nước tiểu lại chảy buộc ta phải dặn tiểu; người phụ nữ đũng quần luôn ẩm ướt là cơ thể đang có bệnh. Tìm ra bệnh, chữa bệnh mang lại khoái cảm khi bài tiết là khỏi bệnh.

     Bốn khoái cảm này kết hợp lại thành cái bất biến cùng với “Tứ diện hiện sinh” để ứng phó với vạn biến truy tìm tất cả các loại bệnh có trong cơ thể con người”. (Trích dẫn Y Học Dân Gian Nước Việt đăng trên trang WER Việt Y Cổ truyền).

       3. Liệu Pháp giải độc cho toàn cơ thể của Việt Y cổ truyền.
    3.1. Khi nào cần có Liệu Pháp Giải độc cho cơ thể?
   Phương pháp khám bệnh đồng bộ tổng thể như trình bày trên chỉ áp dụng vào việc Tổng Quan Kiểm tra sức khỏe cho những bệnh nhân có thân xác hư hao, khám tổng quan theo Tây Y không phát hiện được bệnh gì cụ thể để điều trị. Khi khám kiểm tra sức khỏe toàn diện của Tây Y cho ta những thông tin rất cụ thể và chuẩn xác về thực trạng của cơ thể bằng cách so sánh kết thăm khám cụ thể với các Hằng số Sinh Lý của một người bình thường.
     Y học hiện đại đang mắc phải Hội chứng: Sùng bái kết quả tầm soát bằng xét nghiệm Sinh- LÝ- Hóa học ở cơ thể con người. Các vị Bác sỹ luôn coi kết quả xét  nghiệm là chân lý Y học không thể phản biện! Tệ sùng bái máy móc xét nghiệm đang lưu hành khá phổ biến trong suy nghĩ của đội ngũ Bác sỹ Lâm Sàng. Hành động y tế của Khoa Khám Bệnh ở các Bệnh viện lđược trang bị máy móc thiết bị xét nghiệm hiện đại thường diễn ra: Các Bác Sỹ chỉ đọc kết quả xét nghiệm rồi kê đơn thuốc, không thèm nhìn qua sắc mặt của bệnh nhân. (Tôi nói điều này từ trải nghiệm bản thân qua những kỳ kiểm tra sức khỏe định kỳ ở Bệnh viện nơi tôi đăng ký bảo hiểm Y Tế). Thiết bị xét nghiệm hiện đại là một tiến bộ khoa học kỹ thuật rất đáng khâm phục, nhưng cũng nên nhớ rằng: sự thông minh của máy đều do “Phần Mềm” cài đặt của tác giả các máy đó. Phần Mêm chủ yếu dựa trên thống kê khảo sát và được lập trình bằng những thuật toán. Các thiết bị hiện đại không có yếu tố thông minh sáng tạo mà chỉ là sự lặp lại những gì con người sáng tạo ra chúng muốn nói thôi.

      Khi muốn xác định thực trạng thể chất của một con người,Y học hiện đại thường làm cuộc tổng thăm khám hoạt động sống của cơ thể ở tất cả các bộ phận cấu thành. Các thông số Y học hiện đại cẩn biết, như: Thực trạng của I/Máu, bao gồm: (1)Tính chất vật lý của Máu thực trạng các tế bào Máu;    (2), Xét nghiệm Sinh Hóa học của Máu:  Chất Đam, Chất Mỡ, Chất Đường, Mật, Điện Giải, Cân bằng Kiềm Toan, Hormon, Men, Các Chất Khác. II/ Xét nghiệm tính chất Vật Lý của  Nước Tiểu, Xét nghiệm tình trạng các tế bào có trong nước tiểu, như: Một vài Bạch Cầu, Một vài Tế bào Biểu mô Bàng Quang, Niệu đao, Âm đạo. III/ Xét nghệm tính chất vật lý của Phân và xết nghiệm Các chất Sinh Hóa học trong Phân. IV/ Xét nghiệm tính chất vật lý của Dịch não tủy và Các chất Sinh Hóa học trong Dịch Não Tủy. V/ Xét nghiệm Mật, bao gồm Mật A, Mật B, Mật C. VI/ Xét nghiệm các chất có trong Dịch Vị để xác định độ Acits Tự Do và Acits Toàn Phần. VII/ Làm Tủy Đồ Và Lách đồ.Thực hiện toàn bộ sự tầm soát này tốn kém rất nhiều thời gian và tiền bạc, rất ít bệnh nhân theo khám được hết lịch trình này. Tuy nhiên, dù đã đủ các thông số như đã hoach định, thì cầm bảng kết quả, các vị bác sỹ điều trị có kinh nghiệm chữa bệnh luôn bị đặt vào tình trạng khó chuẩn đoán đúng thực trạng sức khỏe của người được khám. Vì sao có tình trạng này?
   Những thông số Vật Lý, Sinh Hóa học được ghi lại qua khảo sát khi đến tay Bác Sỹ đều là ở thời đã qua ( nhanh nhất cũng đã qua 4 giờ). Chuyển hóa các chất trong cơ thể sống là một dòng cháy không ngừng, chuyển hóa thực tại của cơ thể người bệnh lúc đối diện với Bác sỹ đã khác trước rất xa. Đó điều không chắc chính xác thứ Nhất. Điều chưa chắc chắn thứ Hai là Hằng số Sinh Lý của người Việt Nam đang được coi là chuẩn tắc làm thước đo các kết quả xét nghiệm.  Hằng só Sinh học của côn người là  đại lượng có giá trị không đổi, thu được bằng phép thống kê những chỉ số đo lường được trên toàn bộ, từng bộ phận, các thành phần cấu tạo cơ thể (máu, các dịch, vv.) với các phương tiện từ trắc đạc thông thường (thước đo, cân) đến các trang bị hiện đại, tinh vi, chính xác ở các phòng xét nghiệm (vật lí, hoá học, sinh học, thăm dò chức năng). HSSH biến đổi tuỳ theo điều kiện môi trường, sự phát triển kinh tế – xã hội của từng giai đoạn lịch sử. (con người thế kỉ 20 to lớn hơn ở các thế kỉ trước). Nghiên cứu HSSH là một bộ phận của điều tra cơ bản trong việc hoạch định Chiến lược con người. Năm 1975, Bộ y tế đã xuất bản quyển HSSH người Việt Nam. Các số liệu thống kê của thời gian đó khi đất nước vừa ra khỏi chiến tranh kéo dài  30 năm, thể trạng con người Việt Nam lúc đó chắc chắn khác với thể trạng con người Việt Nam hôm nay. Do đó những vị Bác Sỹ giỏi nghể chỉ coi các thông số thu được qua xét nghiệm chỉ có tính tham khảo. Muốn hiểu thực trạng bệnh phải thăm khám trực tiếp, do đó, dù hành nghề Tây Y cũng áp dụng thủ thuật khám bệnh của Đông Y là: Tứ Chẩn: (1) Vọng Chẩn), (2) Văn Chẩn (Văn là nghe),(3) Vấn Chẩn, (4) Thiết Chẩn. Thiết Chấn của Tây Y truyền thống là dùng dụng cụ tai nghe để nghe nhịp Tim đập, nghe lưu lượng máu chạy trong huyết quản. Nhưng Tây Y không thu lượm được nhiều qua ông nghe này. Đặc biệt Y Học cổ truyền rất coi trọng việc bắt mạch là công cụ chính của Thiết Chấn.


Mục đích bắt mạch của Việt Y học cổ truyền là để biết được tình trạng của Khí Và Huyết. Ngoài ra còn để biết vị trí nông sâu và tính chất Hàn Nhiệt của cơ thể người được khám. Nơi tiến hành bắt Mạch là “Thốn khẩu”( động mạch quay ở cổ tay). Thốn khẩu được chia làm ba bộ phận có tên; THỐN, QUAN, XICH. Bộ Quan ngang mỏm trâm trụ, bộ Thốn lui về phía bàn tay, bộ Xích ở phía khuỷu tay

   Kỹ thuật bắt mạch: Đây là lĩnh vực bộ lộ tài năng của từng thầy Lang Việt. Khi người bệnh để ngửa bản tay trên mặt gối mỏng, người thầy Lang dùng ba ngón tay: ngón giữa đặt vào bộ Quan, ngón Trỏ đặt vào bộ Thốn, ngón Nhẫn đặt vào bộ Xích. Bệnh nhân trong trạng thái thư giãn toàn phần, tâm thế trống rỗng, thở đều và nhẹ. Bệnh nhân có thể ngồi hoặc nằm trong phòng xem mạch sạch sẽ thoáng đãng và yên tĩnh tuyệt đối.  Người thầy thuốc cũng phải “dọn mịnh” sạch sẽ, tâm thế bình yên ngồi đối diện với người bệnh, ánh mắt nhìn của Thầy phải dịu dàng ấm áp nhưng phảng phất một chút nghiêm nghị của bậc cha mẹ bệnh nhân, cho dù người bệnh có lớn tuổi hơn cả thầy thuốc. Việc bắt mạch được tiến hành ở cả hai tay. Thầy Lang dùng tay phải bắt mach ở tay trái bệnh nhân, tay phải của thầy Lang bắt mạch tay trái của bệnh nhân. Cuộc Chẩn Mạch bắt đầu từ lúc Thầy Lang ấn đầu ngón tay vào các bộ vị cả Thốn khẩu. Có 3 cập độ ấn tay: Nhẹ ,Vừa và Sâu. Đầu tiên xem tống quát cả ba bộ ở hai tay: (1) Bộ Thốn tay trái chứa thông tin của Tim và Ruột Non, (2) Bộ Quan tay trái chứa thông tin của Gan và Mật, (3), Bộ Xích tay trái chứa thông tin của quả Thận trái ( thường gọi là Thận Thủy), (4), Bộ Thốn tay phải chứa thông tin của Đại tràng (ruột Già), (5), Bộ Quan tay phải chứa thông tin của Tỳ, Vị (Dạ Dày), (6), Bộ Xích tay phải chứa thông tin của quả Thận Phải ( Thường gọi là Thận Hỏa) và Tam Tiêu. Điều cần ghi nhớ: Thông tin ở tay Trái nói thực trạng của Huyết; thông tin ở tay Phải nói thực trạng của Khí. Nhân thể nói qua: Đối với Việt Y cổ truyền, Huyết và Khí là trục đồng quy mọi lý sự về sống của cơ thể đều xuất phát từ Huyết và Khí và gút lại cũng phải quy về Huyết và Khí để lành chữa bệnh mà thôi.

  Giải Mã thông tin:  (1), Khi các ngón tay ấn vào các bộ vị với lực trung ấn (lực vừa phải) mà nhịp mạch hòa hoãn, mạch Xích và mạnh Quan có lực kháng lại lực ấn đó đấu hiệu Mạch Bình Thường. (2), Mạch Phù (nổi): ấn nhẹ Mach đập rõ nhất, ấn vừa Mạch yếu đi, ấn mạnh mất Mạch. Thông tin này nói rằng cơ thể đã mắc bệnh nhưng mới phần Vỏ Thân (Bì Phu, gọi tắt là Biểu). (3), Mach Trầm (chìm): Ấn mạnh tay mới thấy Mạch đập, bệnh đã vào nội Tạng, thường gọi là “Trúng nhập Lý”, gọi tắt bệnh đã ở phần Lý. Chú ý: người có thể trạng béo bình thường luôn có Mạch Trầm. (4), Mạch Sắc (nhanh): Mạch chạy với vận tốc 80 lần/phút: Cơ thể đang ở trạng thái Nhiệt. (5), Mạch Trì (chậm): Mạch chạy với vận tốc 60 lần/phút: Cơ thể đang ở trạng thái mắc Chứng Hư, Hàn. (6), Mạch có lực: Ấn hơi mạnh, Mạch vẫn đập, nhưng thành mạch vẫn mềm mại, không căng thắng: Biểu hiện bệnh là Chứng Thực. (7) Mạch không có lực: Khi ấn mạnh, Mạch không đập nữa, thành Mạch mềm nhưng không có sức chống lại: Các biểu hiện của bệnh thuộc Chứng Hư
   Một só trạng thái của Mạch cần chú ý trong quá trình Bắc Mạch:
   - Mạch Hoạt: Vận tốc của Mạch trơn chu không có dấu hiệu ngừng nghỉ.
   - Mạch Sáp: Mạc đi khó khăn, sáp sít.
   - Mạch Huyền: Mạch căng như dây dàn căng
   - Mạch Nhu:  mạch mềm yếu.
   - Mạch Hồng: Tiếng Mạch to, nổi.
   - Mạch Tế: Mạch nhỏ yếu.
    Trong thực tế các trạng thái Mạch thường hòa hợp vơi nhau như Mạch Phù Hoãn, Mạch Trầm ,Tế, Sắc. Thầy Lang phải thật tĩnh tâm tinh tường mới ghi nhận không nhầm lẫn.
   Bắt Mach thực chất là thu lượm thông tin Sinh-Lý –Hóa- Y của cơ thể qua tín hiệu của Dòng Máu Lưu Thông. Tôi viết hoa thuật ngữ này ngụ ý như một danh từ riêng vì Dòng  Máu Lưu Thông trong chẩn mạch của Việt Y có một số phận riêng biệt. Nó, “Dòng Máu Lưu Thông” không chỉ đơn thuần là phương tiện vận tải các chất “đầu vào” cho việc trao đổi chất của các tế bào mà còn là phương tiện chuyên chở các chất thải loại trong quá trình trao đổi chất ở các tế bào các Mô trở lại dòng Máu Lưu Thông. Vể phương diện vật lý, sự chuyển động đó tạo ra xung động lên thành mạch máu. Y học cổ điển Phương Đông lợi dụng hiện tượng đó để tầm soát bệnh tật ở con người từ rất lâu đời và tích lũy kinh nghiệm làm nên Mạch Học rất đặc sắc. Nền móng xây dựng nên Mạch học là quan niệm của Y học Phương Đông về  Tạng, Phủ  để chỉ các bộ phận cấu thành các cơ quan bện trong cơ thể con người. Việt y cổ truyền khác trung Y ở chỗ: Việt Y xác định là có 5 Tạng là: Tim, Gan, Dạ Dày, Phổi, Thận. Chức năng của các Tạng là tàng chứa các chất tinh hoa, những nguồn năng lượng tinh khí của cơ thể. Quan hệ giữa các Tạng với nhau thông qua chức năng Chuyển Hóa của các Phủ. Y học thuần Việt không quan tâm dến cái gọi là quan hệ Ngũ Hành của trung Y. Việt Y cổ truyền xác định trong cơ thể người có  6 Phủ là:  Mật gắn vớ Gan, Ruột Non, Thượng Vị, Ruột Già, Bàng Quang, và Tam Tiêu. Tạng Phủ là thể chất cố định của cơ thể.
    Bên cạnh thể chất cố định trong cơ thể người còn 5 thể chất linh động là: Huyết, Khí, Tinh, Thần và Tân Dịch, trong đó hai thể chất linh động được xem là nền móng tạo dựng nên Mạch học và là hai cột trụ của việc bắt mach, đó là Huyết và Khí. Quan niện của Việt Y về Huyết: Huyết được khởi nguồn từ Tạng Tỳ (Dạ Dày) là tinh hoa của thức ăn đồ uống. Huyết được Tạng Tâm cai quản và tàng trữ ở Tạng Gan. Huyết được vận hành trong huyết quản nhờ có Khí thúc đẩy. Nói về khái niệm Khí, Việt Y cổ truyền quan niệm rằng Khí là biểu hiện bản lĩnh của cá thể trước sự tác động của ngoại cảnh. Có thể hiếu khái niệm “Khí” ở đây là toàn bộ phong cách ứng xử, thường được gọi là “đối Nhân xử Thế” của một con người. Một người lúc khỏe mạnh có tính cách nhút nhát e thẹn, khiêm tốn, lễ phép với mọi người; khi lâm bệnh thì cái nhút nhát đó biến mất không còn biết e thẹn nữa, trở nên trơ lỳ. Một người khi khỏe mạnh vốn dĩ là người có phong cách ứng xử linh hoạt tinh khôn, dũng cảm; khi bị  mắc bệnh thì cái “Khí phách” đó đã bị nhạt nhòa. Người mắc bệnh dù rất nặng nhưng khí phách vẫn còn là còn cơ hội để cứu sống. Dân gian gọi cái khái niệm “Khí” đó là “Hồn người”. Trong cơ thể người khí không tồn tại độc lập mà luôn ẩn tàng trong Huyết vì thế Khí luôn gắn với Huyết. Nếu được giải mã bằng khoa học Sinh-Ly Hóa hiện đại thì Khí chính là sự cân bằng nội môi, một biểu hiện sống còn của cơ thể.
    Cân bằng nội môi là giữ cho môi trường trong cơ thể ổn định đúng với Hằng số Sinh Lý của cơ thể. Sự ổn định về các điều kiện lí hoá của môi trường trong đảm bảo cho các tế bào, cơ quan trong cơ thể hoạt động bình thường. Rất nhiều bệnh của người và động vật là hậu quả của mất cân bằng nội môi. Ví dụ: bệnh cao huyết áp, tiểu đường
   Cơ chế duy trì cân bằng Nội môi trong cơ thể người thường diễn ra như sau: 
 
   Các cơ quan thụ cảm thụ, thowngf là các Thụ Thể  tiếp nhận kích thích từ môi trường (trong, ngoài) và hình thành xung thần kinh truyền về bộ phận điều khiển. Bộ phận điều khiển: là trung ương thần kinh hoặc tuyến nội tiết điều khiển các hoạt động của các cơ quan bằng cách gửi đi các tín hiệu thần kinh hoặc hoocmôn. Bộ phận thực hiện: là các cơ quan như thận, gan, phổi, tim, mạch máu… dựa trên tín hiệu thần kinh hoặc hoocmôn từ bộ phận điều khiển để tăng hoặc giảm hoạt động nhằm đưa môi trường trở về trạng thái cân bằng, ổn định.
     Thận tham gia điều hoà cân bằng áp suất thẩm thấu nhờ khả năng tái hấp thụ hoặc thải bớt nước và các chất hoà tan trong máu. Khi áp suất thẩm thấu trong máu tăng do ăn mặn, đổ nhiều mồ hôi…thận tăng cường tái hấp thu nước trả về máu,  giúp cân bằng áp suất thẩm thấu.Khi áp suất thẩm thấu trong máu giảm thận tăng thải nước duy trì áp suất thẩm thấu.
     Gan tham gia điều hoà áp suất thẩm thấu nhờ khả năng điều hoà nồng độ của các chất hoà tan trong máu như glucôzơ…Sau bữa ăn, nồng độ glucôzơ trong máu tăng cao, tuyến tụy tiết ra insulin, làm cho gan chuyển glucôzơ thành glicôgen dự trữ, đồng thời kích thích tế bào nhận và sử dụng glucôzơ, nồng độ glucôzơ trong máu giảm và duy trì ổn định
    Khi đói, do các tế bào sử dụng nhiều glucôzơ, nồng độ glucôzơ trong máu giảm, tuyết tụy tiết ra glucagôn giúp gan chuyển glicôgen thành glucôzơ đưa vào máu, nồng độ glucôzơ trong máu tăng lên và duy trì ổn định


   Tài liệu chính thức công bố về Máu của Khoa học hiện đại lại củng cố thêm cho sự xác đáng của nhận định này: Máu là một loại mô liên kết với một chất dịch cơ bản và các yếu tố hữu hình.  Chất dịch cơ bản của máu được gọi là huyết tương (plasma).  Lơ lững trong huyết tương là các thành phần tế bào, gồm 3 loại chính là: (1) Các hồng cầu (erythrocytes); (2) các bạch cầu (leukocytes) và (3) các tiểu cầu hay tấm máu (platelets).  Cả ba loại tế bào nầy đều xuất phát từ các tế bào mô liên kết đặc biệt gọi là các nguyên bào (stem cell) trong tủy xương của cá thể trưởng thành.

Nếu toàn bộ máu được xử lý để chống đông và cho vào một ống nghiệm đặt thẳng đứng, các yếu tố tế bào sẽ từ từ lắng xuống đáy, để lại huyết tương ở phía trên.  Bình thường các tế bào chiếm khoảng 40 - 50% tổng thể tích của máu, trong khi huyết tương chiếm khoảng 50 - 60%.  Máu gồm 4 thành phấn chính: Huyết tương, Bạch cầu, Hồng cầu và tiểu cầu
a. Huyết tương:
   Thành phần cơ bản của huyết tương là nước, chiếm khoảng 90%.  Trong nước có một số lượng rất lớn các chât hòa tan; nồng độ của các chất nầy thay đổi tùy theo hoạt động của sinh vật và khác biệt từ một phần của hệ cơ quan nầy đến hệ khác.  Ðể tiện lợi, người ta thường chia những chất hòa tan nầy thành sáu loại: (1) các ion vô cơ và muối; (2) các protein huyết tương; (3) các chất dinh dưỡng hữu cơ; (4) các sản phẩm thải có nitơ; (5) các sản phẩm đặc biệt được chuyên chở; (6) các khí hòa tan.
 Các ion vô cơ và muối:
Nồng độ của từng ion trong huyết tương được duy trì hằng định và được điều hòa nhờ nhiều yếu tố, đặc biệt là thận và các cơ quan bài tiết khác cũng như một số hormone.  Sự ổn định này được gọi là sự cân bằng nội môi (homeostasis), đặc biệt cần thiết cho các chức năng của cơ thể. Khi nồng độ của các ion trong huyết tương tăng sẽ dẫn đến sự tăng các ion nầy trong dịch mô, gây ra những rối loạn nghiêm trọng.  Nồng độ của các ion nầy cũng rất quan trọng trong việc xác định độ pH của dịch cơ thể.

- Các protein huyết tương:
 Các protein huyết tương chiếm khoảng 7 - 9% trọng lượng huyết tương, gồm ba loại chính: fibrinogen, albumin và globulin, hầu hết đều được tổng hợp từ gan.  Các protein nầy có vai trò quan trọng trong việc xác định áp suất thẩm thấu của huyết tương, ảnh hưởng đến sự trao đổi chất ở mao mạch và sự cân bằng nước của cơ thể.  Chúng giúp ổn định pH của huyết tương cũng như kiểm soát độ nhớt của huyết tương.

Ngoài ra, khi liên kết với các hormone, acid béo hoặc các lipid, một số vitamin và các chất khoáng, các protein sẽ hổ trợ cho sự vận chuyển các chất nầy bởi máu.  Thêm vào đó, fibrinogen và một số globulin có vai trò trong sự đông máu, một số globulin khác tham gia vào đáp ứng miễn nhiễm.

- Các chất dinh dưỡng hữu cơ :
 Các chất hữu cơ trong huyết tương gồm glucoz, các chất béo, phospholipid, acid amin, acid lactic và cholesterol.  Một số được hấp thu từ ruột, một số đi vào máu từ gan.  Acid lactic là sản phẩm của sự đường phân, chúng được chuyên chở từ máu vào gan.  Tại đây một số được dùng để tái tổng hợp carbohydrate, một số sau đó được oxy hoá thành .  Cholesterol có vai trò chính là tiền chất (precursor) của hầu hết các hợp chất steroid quan trọng trong cơ thể.

- Các sản phẩm thải có nitơ:
Huyết tương cũng chuyên chở các sản phẩm thải có nitơ từ các cơ quan bài tiết như thận.  Ở động vật hữu nhũ, những chất thải nầy chủ yếu ở dạng ure, một số ít là ammonia và acid uric.

- Các sản phẩm đặc biệt được chuyên chở:
Trong số các sản phẩm được huyết tương chuyên chở, các hormone có vai trò đặc biệt quan trọng.  Cấu trúc, chức năng và cơ chế tác động của chúng đã được đề cập chi tiết ở chương 7.

- Các khí hòa tan:
Có ba chất khí chính hòa tan trong huyết tương.  Một là N2 khuếch tán từ phổi vào máu, trơ về mặt sinh lý.  Hai khí khác là đặc biệt quan trọng sẽ được đề cập chi tiết ở phần sau.

b. Bạch cầu:

Các tế bào bạch cầu của người có nhân lớn, hình dạng không đều (Hình1).  Chúng được tạo ra từ các nguyên bào đặc biệt trong tủy xương và được phóng thích vào dòng máu.  Ngoài máu, bạch cầu còn có rất nhiều trong hệ bạch huyết.  Chúng cũng có khả năng di chuyển tự do trong các mô liên kết.  Một số có chuyển động kiểu amip và có thể thoát ra khỏi mạch máu và mạch bạch huyết bằng các xuyên qua thành mạch ở chỗ tiếp giáp giữa các tế bào nội bì.  Thực chất các tế bào bạch cầu di chuyển trong một hệ thống liên tục bao gồm máu, bạch huyết và các mô liên kết.  Các tế bào bạch cầu khác nhau giữ vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các vi sinh vật gây bệnh như chúng ta sẽ thấy trong phần sau.
c. Hồng cầu

Các hồng cầu của người là những tế bào nhỏ, hình đĩa lõm hai mặt, không có nhân.  .  Mặc dù số lượng hồng cầu được duy trì ổn định ngày này qua ngày khác, vẫn có một số tế bào chết đi và một số mới được sinh ra.  Thời gian sống bình thường của một hồng cầu là 120 ngày.  Mỗi giây có hơn 2 triệu hồng cầu bị phá hủy chủ yếu trong gan và tụy, tại đây chúng bị nuốt bởi các đại thực bào.  Cũng có những tế bào thực bào trong các hạch bạch huyết để phá hủy những tế bào hồng cầu thoát từ máu vào hệ bạch huyết.
Ở cá thể trưởng thành, các hồng cầu được sản sinh từ các nguyên bào trong tủy xương (Hình 1).  Các tế bào hồng cầu chưa trưởng thành có nhân, ti thể, bộ Golgi...  nhưng về cuối giai đoạn phát triển, chúng mất nhân và các bào quan khác, tích tụ nhiều hemoglobin, sau đó đi vào máu.
- Phân tử Hemoglobin (Hb) là một protein hình cầu có bốn chuỗi polypeptide. Mỗi chuỗi đều có chứa một nhóm phụ phức tạp gọi là nhóm Hem, có một nguyên tử Fe ở trung tâm (Hình 2).
- Mỗi nguyên tử  Fe của Hb  có thể kết hợp với một nguyên tử oxy.  Ở phổi, nồng độ oxy trong môi trường chung quanh tương đối cao, mỗi phân tử Hb  kết  hợp với  bốn  phân tử oxy tạo thành  một hợp  chất  là  oxyhemoglobin làm cho máu có màu đỏ tươi. Trong mao mạch của hệ tuần hoàn, nơi có nồng độ oxy tương đối thấp, Hb sẽ phóng thích oxy. Khả năng máu chuyên chở  tùy thuộc vào số lượng hồng cầu trên một đơn vị thể tích, kích thước hồng cầu và số Hb trong mỗi tế bào hồng cầu.  Tình trạng gọi là thiếu máu (anemia) xảy ra khi tổng Hb trong máu thấp.  Nó có thể liên quan đến sự giảm số lượng hồng cầu hoặc sự giảm mức Hb trong mỗi tế bào.  Vì vậy thiếu máu có thể xảy ra do một số nguyên nhân như mất máu, thiếu Fe và một số vitamin trong khẩu phần ăn, sự thành lập các tế bào không bình thường (như tế bào hồng cầu hình liềm) và sự tổn thương tủy xương như bệnh, nhiễm chất phóng xạ hoặc các hóa chất độc.
d. Tiểu cầu

Tiểu cầu là những thể nhỏ, không màu, có nhiều hạt, kích thước nhỏ hơn hồng cầu rất nhiều. Tiểu cầu được sản sinh ra khi tế bào chất của các tế bào tủy xương (megakaryocyte) bị tách ra và đi vào hệ tuần hoàn.
     Chức năng chính của tế bào là giải phóng Thromboplastin để gây đông máu.  Khi gặp một vật lạ hay bề mặt tiếp xúc nhám, tiểu cầu sẽ ngưng kết thành cục nhờ đó đóng kín vết thương.  Ngoài ra khi tiểu cầu bị vỡ chúng sẽ phóng thích serotonin gây co mạch để cầm máu.
Sự đông máu là một sự thích nghi tiến hóa cho sự sửa chữa cấp thời của hệ tuần hoàn và để ngăn cản sự mất quá độ của dịch cơ thể khi mạch máu bị tổn thương.  Sự đáp ứng tức thời của mạch máu là khép lại, làm cho máu chảy chậm lại.  Các tiểu cầu ở vùng nầy cũng dính vào nhau và dính vào mô tổn thương, tạo ra một đám tiểu cầu bị ngưng kết.  Ðám tiểu cầu có thể làm chậm hoặc làm ngừng chảy máu từ các mạch tổn thương nhưng chúng rất dễ bị đẩy ra khỏi vị trí.  Chúng được ổn định bằng sự thành lập của một cục máu (một mạng lưới các sợi được tạo ra chung quanh các tiểu cầu ở các mô tổn thương).  Các tế bào khác có thể đan xen vào các sợi làm căng cục máu.  Các sợi nầy được hợp thành từ các protein fibrin.  Sợi fibrin được thành lập trong quá trình đông máu khi một protein tan trong huyết tương là fibrinogen được biến đổi thành fibrin không hòa tan.  Mặc dù quá trình nầy rất phức tạp và gồm hàng loạt phản ứng, để đơn giản nó có thể được tóm gọn lại trong hai phản ứng sau:       
    Quá trình bắt đầu khi bề mặt của mạch máu bị tổn thương phóng thích ra một chất gọi là thromboplastin, chất nầy kết hợp với các protein khác của máu tạo thành một phức hợp được hoạt hóa.  Phức hợp nầy biến đổi protein của huyết tương là prothrombin thành thrombin.  Ion và một phospholipid chuyên biệt trên bề mặt của tiểu cầu cần thiết để cho quá trình xảy ra.  Bước cuối cùng của quá trình là thrombin biến đổi fibrinogen thành fibrin.
    Nếu chẳng may một trong các yếu tố cần thiết cho quá trình đông máu bị thiếu, toàn bộ chuỗi phản ứng có thể bị hỏng.  Thí dụ những người mắc bệnh máu khó đông (hemophilia) thiếu yếu tố VIII  là một loại protein cần cho sự thành lập phức hệ hoạt động để biến đổi prothrombin thành thrombin.  Không có protein nầy máu không đông được, do đó ngay cả một vết đứt nhỏ cũng làm cho người bệnh chảy máu đến chết.
    Mặc dù khoa học hiện đại đã khám phá được nhiều mới lạ về Máu, nhưng Máu vãn là nơi ẩn chứa nhiều điều bí ẩn của sự sống, đặc biệt vai trò của Máu trong việc tầm soát bệnh tật ở con người. Các xét nghiệm phục vụ cho việc khám bệnh của Tây Y đứng đầu vẫn là xét nghiệm Máu. Tổ tiên ta từ rất lâu đời đã cẩm nhận được vai trò của Máu trong việc tầm soát bệnh tật. Trước sự phát hiện của khoa học Sinh Hóa hiện đại  tới hơn 3 ngàn năm, bằng khinh nghiệm thực tế các thế hệ nối tiếp của Thày lang Việt đã phát hiện ra Khí trong cơ thể người mặc dù Khí là vật vô hình. Điều đặc sắc hơn nữa là Việt Y quả quyết: Huyết vận hành trong huyết quản nhờ Khí thúc đẩy. Bị ảnh hưởng bởi Tây Y nhiều người luôn nghĩ rằng Máu lưu thông được trong huyết quản là nhờ chệnh lệch áp suất do sự co bóp của nhịp Tim tạo ra . Huyết học và  lý luận về Hệ thống tuần hoàn luôn được khoa học Sinh Hóa hiện đại  bổ xung những phát hiện mới, và phải thừa nhận: Áp lực do co bóp tim tạo ra chỉ có lực đấy mạnh ở khoang thân gần tim, còn mạch máu ở những miền xa tim có lực đấy rất thấp. Thế nhưng có một thực tế là Máu được dẫn tới các hộ tiêu thụ là các tế bào lại từ những vi ti huyết quản có đường kính nhỏ hơn tiết diện của sợi tóc, áp lực do Tim tạo ra không còn lực vươn tới, vậy Máu vẫn chẩy là nhờ lực nào? Đó chính là Khí của Việt Y cổ truyền. Khí nằm ngay trong Máu đó chính là các ION vô cơ và Muối đã nói ở phần trên. Diễn trình của cân bằng nội môi là tác nhân chính đưa máu đi nuôi cơ thể và chuyên chở các chất thải loại trong quá trình trao đổi chất trong tế bào đưa ra khổi cơ thể. Chính nhờ cơ chế cân bằng nội môi mà Máu đã làm sống động hệ thống mao mạch xua đi nỗi bi quan của các chuyên gia tim mạch Tây Y rằng: tuổi thọ của con người bị rút ngắn nhiều lần so với  khả năng sống sót của nó không phải do bệnh Ung thư mà là các mao mạch sẽ bị teo lại , nhịp tim yếu ớt không đủ lực đẩy Máu đi nuôi cơ thể khi người ta bước vào tuổi già.
      Khoa học Hóa Sinh hiện đại mới có kiến thức về Máu trong cơ thể người khoảng 70 năm gần đây. Y học Á Đông trong đó có Việt y cổ truyền đã hiểu về Máu từ nhiều thế kỷ nay. Trong quá trình xây dựng những căn cứ để nhận định về Máu, Việt Y xác định Huyết do Tâm cai quản và dự trữ ở Gan, nhưng tại sao ở Bộ Vị Thốn Trái lại ghi thêm Ruột Non ở đó? Đây chính là một ngạc nhiên thú vị. Khoa học Sinh Lý giải phấu hiện đại phát hiện rằng Ruột Non là nơi cuối cùng  hoàn thành thức ăn Đồng Hóa mang đặc trưng của cơ thể được chuyển vào Máu đưa tới các tế bào để bắt đầu giai đoạn Dị Hóa tạo sự sống cho cơ thể. Hàng ngàn năm trước chỉ bằng cảm nhận thực tế chữa bệnh, các Thày Lang đã biết câu chuyện hệ trọng này. Cùng với tiếng đập của nhịp tim, các thầy Lang cổ còn nghe thấy những tiếng động khác từ Ruột Non tham gia vào câu chuyện Tạo Hyết này. Bộ vị thứ hai của tay trái chuyên thông tin về Huyết ghi danh: Gan và Mật là địa chỉ bắt buộc thày Lang bắt mạch phải đụng đến nếu muốn hiểu thực trạng của Huyết và cơ quan sản sinh ra những thành phần cơ bản của Huyết. Sinh Lý giải phẫu đã chứng minh rằng: Gan là một Xưởng sản xuất phần lớn Protein trong Máu và các thành phần cấu tạo của Mật. Gan là nơi diễn ra các hoạt động sống  còn khác như sự giải độc các chất từ ngài vào, kể cả Thuốc và thải trừ các chất có hại. Người ta mới đếm được có hơn 30 loại tế bào khác nhau cư trú ở Gan, trong đó có loại tế bào Hepatoccyt chuyên tổng hợp các Protein của Huyết tương. Bộ vị thứ 3  là Xích trái có nhiệm vụ tầm soát hoạt động của quả Thận. Thận giữ vai trò lọc Máu. Thận  là một tạng trong hệ tiết niệu, có hai quả, có nhiều chức năng. Chúng là một bộ phận quan trọng của hệ tiết niệu và cũng có chức năng hằng định nội môi như điều chỉnh các chất điện phân, duy trì sự ổn định axit-bazơ, và điều chỉnh huyết áp. Các quả thận đóng vai trò là bộ lọc máu tự nhiên trong cơ thể, và các chất thải theo niệu quản được dẫn đến bàng quang để thải ra ngoài. Trong việc tạo ra nước tiểu, các quả thận bài tiết các chất thải như urêacid uric và amoniac; thận cũng có nhiệm vụ tái hấp thụ nướcglucose, và các axít amin. Thận cũng sản xuất các hóc môn như calcitriolrenin, và erythropoietin Nghe mach kỹ lưỡng ba Bộ vị ở tay trái là đã có đủ thông tin về Huyết. Ví dụ; Mạch ở cả ba bộ vị có nhịp đi khó khăn sáp sít, kết hợp quan sát thấy Da xanh, người gầy yếu, cử động mạnh là có tiếng trống ngực thì đó chính là Chứng Huyết hư. Đây chính là chủ điểm thứ nhất để Việt Dược cổ tryền  đưa ra các Bài thuốc riêng có của mình để giải độc cho cơ thể. Các thành tố làm nên chứng Huyết hư: (1)  Thiếu Máu, thực chất là vắng thiếu các Protein cấu tạo nên Huyết Tương, tỷ số Huyết Thanh trên Huyết Tương giảm, bắt thấy Mạch đi nhanh ( mạch sắc), toàn thân mản ngứa, mụn nhọt , dị ứng là mắc Chứng Huyết Nhiệt; (2), Chứng Huyết Ứ, đaunhứ tại các vị trí cụ thể, sưng nóng có dấu hiệu Viêm; (3), Chứng Huyết Nhiệt, thân thể bị mẩn ngứa, dị ứng, mụn nhọt; (4), Chứng Xuất huyết nội tạng và bì bì phu, như chảy máu dạ dày, chảy máu dướ da ở bệnh sốt xuất huyết; V.v…
    Ba bộ vị ở tay phải cung cấp thông tin về Khí, Quan niệm về Khí và Huyết trong Việt y luôn gắn kết với nhau không thể tách rời, nhưng việc xem mạch luôn được tách ra để nhận biết từng thành tố cấu thành trong tổ hợp Khí- Huyết của Việt Y. Tay trái đã cho chúng ta thông tin về Huyết, tay phải bố xung thêm thông tin về Khí. Trong thực tế xem mạch đoán bệnh của các thầy lang chủ yếu chỉ cần xem các bội vị tay trái là đã đoán được bệnh rồi. Với quan niệm Khí là năng lượng hoạt động của cơ thể và  do “Tinh Huyết” tạo ra, nên Khí hành thì Huyết hành, Khí trệ thì Huyết ứ. Khí hư làm cho cơ thể thiếu lực, thường gọi là suy nhược cơ thể. Đây chính là một trong hai chủ điểm mà Việt Dược cổ truyền có các Bài thuốc riêng có của mình để giải độc cho cơ thể. Các thành tố làm cho Khí hư:  (1) Khí Phế hư là chức năng hô hấp kém, Phổi bị thương tổn, viêm các đường hô hấp Lớn và Nhỏ;( 2), Chứng đau Dạ Dày; (3), Chứng Khí Trệ, Khí Uât, chứng này nhờ bắt mạch ở bộ vị Xích Phải  có tên là Tam Tiêu nhờ mới phát hiện được. Đây là một khái niệm riêng có của Việt Y, Trung Y có thấy nói tới ở những tác gia cổ điển, Tây Y không biết đến khái niệm này. Tam Tiêu là một đường “Thủy Khí”chạy dọc sống lưng. Tam Tiêu có ba phần: Thượng Tiêu được tính từ đỉnh đầu tới hoành cách mô; Trung tiêu là khoang bụng chưa các cơ quan: Gan Mật, Dạ Dày, ruột Non; Hạ Tiêu từ Rốn tới gan bàn chân, trong điêm là Bàng Quang, Ruột già, Đĩa xương chậu, Các Khớp chân. Nếu đường Thủy Khí thông suốt thì cơ thể  khóe mạnh, nếu tắc ứ ở phần nào thì có bệnh ở phần đó. Có riêng  thuốc giải độc làm tan chứng Khí Trệ, Khí Uất, Khí Nghịch chỉ Việt Dược cổ truyền mới có.
    Thiết Mạch nằm trong tổ hợp thao tác khám bệnh của Việt Y,tuy đã lâu đời nhưng với đà tiến của khoa học kỹ thuật khám chữa bệnh hiện đại Tổ Hợp thao tác khám bệnh của Việt Y ngày càng sáng rõ tính thiết thực cụ thể của nó. Với việc thăm khám đồng thời các bộ vị Thốn, Quan, Xích ở Tay Trái và tay Phải cho người thầy thuốc các thông tin sống động ở thì hiện tại của cơ thể. Nếu thầy Lang hành nghể lâu năm và chịu tổng kết kinh nghiệm thì kỹ thuật chẩn mạch của Việt Y còn cho nhiều thông tin về cơ thể con người mà cho đến thời điểm này Sinh lý học hiện đại vẫn chưa lý giải được. Tuy nhiên, xem mạch đoán bệnh chỉ là khâu cung cấp luận cứ để Bốc thuốc thôi. Bốc thuốc mới là khâu quyết định xem Thầy chữa nói có chính xác không hay chỉ là nói xạo. Trước khi sang phàn những Bài thuốc cụ thể, cần nói rõ thêm về nguyên tắc chữa bệnh của Việt Y.
    Việt Y luôn xuất phát từ quan niệm Bệnh ở cơ thể người nhìn tổng thể là sự mất cân bằng Nội Môi, kể cả những Bệnh ở Bì Phu như lở ghẻ, vẩy nến, dị ứng cũng là do mất cân bằng nội môi mà sinh ra. Các bệnh do sát thương mà sinh ra, lúc đầu thuộc về ngoại khoa, nhưng từ thời điểm băng bó vết thương và cầm máu xong nó đã trở vấn đề của cân bằng Nội Môi rồi. Chữa bệnh là lập lại sự cân bằng nội môi của cơ thể. Giả độc cho cơ thể cũng chính là triệt tiêu các yế tố làm mất cân bằng đó và Việt Y cổ truyền ứng dụng ở thời hiện đại cũng tuân theo quy luật của Chuyển hóa các chất trong cơ thể người. Do đó, dược liệu tham gia vào công cuộc giải độc trong các Bài thuốc của Việt Y luôn làm hai nhiệm vụ: !/ Trung hòa các chất trung gian được tạo ra trong quá trình chuyển hóa  có hại cho việc trao đổi chất của cơ thể. 2/ Bổ xung các chất cần cho chuyển hóa vì một lẽ nào đó bị thiếu hụt trong quá trình trao đổi chất của cơ thể. Thống nhất quan điểm đó, chúng ta tìm hiểu các Bài thuốc giải độc của Việt Y.
   4. Những bài thuốc giả độc của Việt Y.
    4.1. Cấp cứu cho Người bị Huyết Hư, Khí uất ( Dùng để cấp cứucho người lên cơn nghiện các loại Ma túy tổng hợp và nghiện thuốc Phiện lâu năm), có biểu hiện: thình lình ngã ngất, hôn mê bất tỉnh, miệng mắt méo lệch, sùi bọt mồm, bọt mép, chân tay cứng đờ không co duỗi được; khi tỉnh lại thì bản thân bất toại:
      Bài Cc1 Cấp cứu ngộ độc Ma túy:  Dây Bồ Đài, Thạch Xương Bồ, Lá Ké Đầu ngựa, Rễ Chu Biên, Dây Lang Rừng. Các vị đều nhau làm thành Thang thuốc, thêm 3 lát gừng tươi sắc với nước lã, uống nóng. Uống hết 3 bát thuốc trong 24 giờ là trở lại bình thường.
       Bài Cc 2. Cấp cứu ngộ độc các loại Ma túy bị cấm khẩu: Nam tinh 50 gam tán bột nhỏ mịn, Bột long não 10 gam  hai thứ trộng lẫn dùng ngó tay trỏ chấm thuốc sát mạnh vào răng ba mươi lần thì miệng tự nhiên mở ra cho uống ngay bài thuốc cấp cứu 1
    Bệnh nhân đã hồi sinh thì phải điều trị ngay bằng Liệu Pháp cai nghiện Ma túy đang được Việt Y cổ truyền phổ biến ( do thầy Kiều Bình Quang phụ trách).
    Những bài thuốc cấp cứu này nhằm phục vụ những người nghèo sống ở nông thôn xa các cơ sở Y tế Nhà nước thì có thể tự kiếm được dược liệu ở môi trường tự nhiên. Nếu các bài thuốc cấp cứu số 1 mà sản xuất theo cơ chế thị trường thì giá thành rất đắt vì ở Thành thị mà đi kiếm các vị thuốc dân gian đó thì sẽ sa vào cánh “của một đồng công một nén” đấy.
      Bài thuốc cấp cứu ngộ độc ma túy theo cơ chế thị trường:
     1/ Ngũ gia bì: 10gam. 2/ Ngưu tất 8 gam. 3/ Thạch hộc 8 gam. 4/Nhục quế 4 gam. 5/ Gừng nướng cháy 4 gam, sắc với 1 bát nước ăn cơm còn lại một nửa uống một lần. Trước khi uống bài thuốc này cũng phải khai khẩu bằng bài cấp cứu số 2. Tỉnh rồi thì phải điều trị gấp bằng liệu pháp cai nghiện do Lương Y kiều Bình Quang phụ trách. Những bài thuốc giải độc vừa công bố đều của Tuệ Tĩnh xuất bản trong tác phẩm Nam Dược thần diệu.
     4.2 Giải độc cho người bị Huyết hư Khí trệ. Bài thuốc này điều trị cho người  nghiện Ma túy cai nghiện thành công, người  nghiện Rượu nặng, suy nhược toàn thân, hình hài hư hao, lúc nào cũng thấy mệt. Nếu bệnh nhân này có tiền thực hiện đủ các xét nghiệm của Tây Y thì  được phát hiện rất nhiều bệnh, kể bệnh hiềm nghèo là “Tiền Ung thư”. Bài thuốc cổ này có tên là Thiên Khai Hoàn do Tuệ Tĩnh sưu tầm và xuất bản lần đau ở tập Nam Dược Thần Hiệu- Mười khoa chữa bệnh từ thế kỷ thứ 17. Bài thuốc đó như sau:
    1/Trùn khoang cổ 100 con. 2/Cua đồng 100 con 3/ Bọ Hung 15 con. 4/ Kim tinh Ngân tinh tán nhỏ lọc qua nước mỗi thứ 40 gam.5/Thạch Cao nung đỏ tán nhỏ lọc qua nước 40 gam. 6/Thường Sơn ngâm rượu 1 đêm lọc bỏ gân lá 40 gam.7/ Dây Bố Đài 40 gam. 8/ Dây Lang Rừng 40 gam.9/  Rêu Đất 20 gam. 10/ Xác Ve sầu bỏ chân 20 gam. 11/, Xạ Hương 0,5 gam.12/ Binh Lang 40 gam. 12/ Thảo quả 40 gam.13/ Xuyên sơn giáp 6 gam
    Cách chế biến: Dùng một quả bí xanh có trọng lượng 1000 gam, cạo bỏ vỏ xanh, moi hết ruột, dồn các vị;Cua, Dun đất, Rêu đất, đồ chín phơi khô tán nhỏ cùng với các vị còn lại luyện thành viên với nước cơm gạo Lức (còn vỏ cám ngoài), viên thành viên nhỏ như hạt đậu, dùng bột Thanh Đại làm áo ngoài, xấy khô. Liều dùng: Bệnh nặng ngày uống 15 gam; nếu bệnh thuyên giảm ngày uống 10 gam. Uống duy trì khi nào cơ thể hồi phục thì dừng.
   Cách uống:
   1/ Nêu người trúng phong miệng câm, rụt lưỡi, dùng 20 gam lá Ké đầu Ngựa nấu nước để uống thuốc.
   2/Nếu người bệnh bị sốt Rét mà lạnh nhiều, dùng 5 lát Gừng tươi nấu nước uống thuốc.
   3/ Nếu người bệnh nghiện Ma túy mà ở giai doạn quanh năm nhức đầu, đau mình ê ẩm, dùng 7 lá táo, 5 tép hành bóc trắng nấu lấy nước uống thuốc.
   4.3 Giải độc cho người mắc chứng Khí trệ, Huyết ứ, trong cơ thể có những cơn đau bất chợt, hay buồn phiền, phụ nữ ở giai đoạn tiền mãn kinh, Nam giới bị liệt dương lâu ngày. Cả Nam giới và Nữ giới có đấu hiệu tê liệt, đi lại khó khăn phải dùng đến gậy Khung cũi 4 chân.
    Bài thuốc cổ truyền từ thế kỷ thứ 16 lan sang tới Trung Quốc được dùng và ca ngợi. Ông Đỗ Tất Lợi đã ghi lại trong tác phẩm “ Những bài thuốc và cây thuốc Việt Nam”, như này: “ Nếu gặp người sắp chết, chỉ còn thoi thóp dùng một vài liều có thể sống thêm được vài ngày. Sự công hiệu bổ Âm của nó rất vĩ đại, trăm người dùng thời tin cả trăm. Uống nó nhiều lần tai mắt sẽ sáng tỏ thêm, rau tóc đã bạc lại đen, sống lâu khỏe mạnh, thtj hiệu nghiệm cướp công của Tạo Hóa vì thế gọi là Đại Tạo Hoàn”
    Một số chính vị cấu tạo trong Đại Tạo Hoàn:

    1/ Địa Hoàng chế, bao gồm:  Địa Hoàng 100 gam trộng với hỗn hợp: Sa nhân 24 gam, Bạch phục Linh 80 gam tất cả bọc tong túi lụa tơ tằm ngâm vào  rượu trắng rồi đun lên 7 lần ( môi lần đun sôi 15 phút rồi tắt lửa để nguôi rồi lại đun lên 7 lần), bỏ Sa nhân và Phục linh, lấy Địa Hoàng giã nhuyễn.
    2/ Tử Hà Sa ( nhau thai nhi con so của sản phụ trên 18 tuổi khỏe mạnh không mắc bệnh nhiễm trùng đường sinh dục lần nào). Nhau thai thu ngáy sau khi sinh con ngâm ngay vào nước vo gạo nếp rửa sạch máu, dùng hai viên ngói mới ép nhau thai hết nước ngâm vào Mật ong rừng 15 ngày mới sử dụng được.
    3/ Quy bản 80 gam, tẩm nước tiểu đồng tiện ( nước tiểu trẻ em dưới 6 tuổi) ngâm tẩm 3 ngày, phơi khô rồi tẩm dấm Thanh, sấy cho vàng.
    4/ Hoàng bá hoặc lấy vỏ cây Núc Nác cũng được, bỏ vỏ tẩm muối sao khô, 80 gam.
    5/ Đỗ Trọng bỏ vỏ tẩm với sữa người, nướng dòn, 60 gam
    6/ Thiên Môn Đông 48gam
    7/ Mạch môn Đông: 48gam
    8/ Nhân Sâm 48 gam
    9/  Ngưu Tất: ngâm tẩm với rượu trắng, sấy khô: 48 gam
    10/  Ngũ vị Tử: 28 gam
     Nếu dùng cho nữ giới thì bỏ Quy Bản thay bằng Đương Quy 80 gam nấu với Nhũ Hương thành keo kết thuốc.
     Nếu Nam giớ mắc bệnh di tinh, phụ nữ mắc chứng Khí hư (Đới Hạ) thì thêm Mẫu Lệ 40 gam.
  Tất cả các vị trên tán thành bột mịn, chộn với cao Địa Hoàng và Men Sinh Học Ủ yếm khí 3 ngày 3 đêm, mở ra ở nơi thoáng đãng không khí trong lành chờ cho se lại rồi làm viên bằng hạt đậu Đen. Viên thuốc phải bằng tay thợ thủ công, người viên phải là Thiếu nữ còn trinh trắng. Chăm sóc thuốc cho khô, và thực hành ký thuật bảo quản đều phải là Phụ nữ.
    Liều dùng:  Mỗi lầm dùng 50 viên, uống với nước Muối pha nhạt. Mùa Đông dùng rượu trắng uống thuốc.
     Chú thích của Tiến Sỹ Đỗ Tất Lợi ghi trong tác phẩm: “Những cây thuốc và Bài thuốc Việt Nam: Một người mắc bệnh suy yếu, Dương sự không cử lên được, uống hai tễ thuốc này khỏe hẳn lên, mấy năm sinh được 4 con giai. Một phụ nữ từ tuổi 60 đã dùng bài thuốc này thường xuyên, thọ tới 90 tuổi vẫn khỏe mạnh. Một người đàn ông sau khi ốm nặng đã khỏi nhưng bỗng dưng không nói được, sau khi uống bài thuốc này sức lại khỏe, tiếng nói lại vang.
    Bản thân tôi (Lưu Hưng Linh) đã dùng bài thuốc này để thực hiện cam kết với mấy ông bạn giả là chăm sóc sức khỏe cho các vị đó sống đến 100 tuổi. “Hội Sống 100” của chúng tôi đã có được 64 thành viên và đang cứu xét để thu nhận thêm các thành viên nữa. Nếu bạn có hứng thú, xin liên hệ với chúng tôi. 
  Các Bài thuốc giải độc cỏ truyền được ứng dụng thành công còn rất nhiều, tùy theo thể trạng của từng người để áp dụng không thể “sản xuất hàng loạt” được.
  Tiểu luận Y học này được tiến hành tại Việt Y  cổ truyền : bắt đầu từ tháng 3/2016 hoàn thành ngày 25/7/2016.