Cai nghiện Ma túy “ Đá”
Bằng phương pháp Việt Y cổ truyền

Bài viết chuyên sâu. 

 

1. Phương pháp đọc bệnh Nghiện Ma túy Đá của Việt Y Cổ truyền.


1.1 . Trên cơ sở nghiên cứu các bài thuốc cổ truyền về chữa bệnh tâm thần trong dân gian đã tích cóp được từ nhiều đời của Thầy Lang gia đình và Dòng Họ được diễn đạt bằng ngôn ngữ Hóa-Sinh- Y học hiện đại để đọc bệnh. Nhờ phương pháp đọc bệnh đó những Lang Thuốc của Việt Y cổ truyền đã đọc đúng bệnh và vạch ra được phác đồ điều trị có hiệu quả. 
Các trứng ngộ độc Chất Hóa-Dược nhân tạo mang tên Meth Amphetamine. Diễn biến của quá trình ngộ độc đó như sau: Sự quyến rũ của METH đối Dân Chơi là sau khi đưa nó vào cơ thể tức thì tác động lên hệ Thần kinh bằng cách kích thích các tế bào chuyên tiết chất dẫn chuyền thần kinh. Trong hệ Thần kinh trung ương có nhiều chất dẫn truyền thần kinh, có ba chất dẫn truyền Thần kinh phổ biến nhất là Acetylcholine; Dopamine và Serotonin. Nếu những chất dẫn truyền Thần kinh này bị rối loạn, nó sẽ gây nên rất nhiều căn bệnh (đặc biệt là bệnh Thần kinh). 
Chất dẫn chuyền thần kinh làm nên sự quyến rũ các con nghiện dẫn tới ngộ độc Meth trước hết là DOPAMINE. Chất dẫn chuyền này được tạo ra trong cơ thể con người từ những Acid Amin có tên gọi là Phenylalanine. Ở hệ Thần kinh trung ương tổng hợp Dopamine diễn ra ở chính thân tế bào Neuron chuyên biệt . Ở đây đã xảy ra quá trình chuyển Phenylalanine tyrosine -> Adrenalin. Dopamine được tích tụ vào những nang nhỏ gọi là nang dự trữ. Các nang nhỏ này hình thành cũng ở thân Neuron và được vận chuyển với tốc độ 3 – 4mm/giờ tới đầu tận cùng nhờ các vi quản ở Axon. Sự giải phóng Dopamine xảy ra dưới ảnh hưởng của Meth tạo ra các xung động Thần kinh và được thực hiện ở khoang tiền hạch nằm trong khe Synapse. Ở Não, Dopamine trực tiếp là chất chuyển hóa trung gian (Mediator), còn ở ngoại vi nó là tiền thân của Catecholamine (Noradrenaline và Adrenalin). Các tế bào Thần kinh (Neuron) tiết ra Dopamine có ở Liềm đen, ở hệ thống Limbic -Thể Lưới, vùng dưới đồi (Hypothalamus), Nucleus Accumbens… Thân của các Neuron nằm ở Liềm đen, các sợi trục (Axon) tạo thành đường dẫn truyền đi qua cuống não, bao trong và kết thúc ở dạng các đám rối, mà tận cùng của nó là những nang nhỏ có chứa nhiều Dopamine. Chất dẫn truyền thần kinh Dopamine rất hiếm trong cơ thể Con người; bởi vì, chỉ có khoảng 0,3% tế bào Neuron trong Não chuyên tiết chất này. Mặc dù với số lượng ít ỏi nhưng đó là chất rất cần sự có mặt của nó tạo nên chất lượng cuộc sống của Con Người. Dopamine kích thích Con Người ham muốn hay vui thú. Đối với nhiều nhà sinh học, nó là trọng tâm của cái mà người ta gọi là "hành vi lệ thuộc". Lượng dopamine tiết ra là một loại "nhiệt kế của tính khí". Mọi hành động tạo nên hứng thú như dùng một món ăn mang ngon miệng; được giao hợp với bạn tình thỏa mãn, hay nghe một khúc nhạc cảm thấy mê ly, thắng một trò chơi, đều làm tăng tiết Dopamine. Các con nghiện tìm đến Meth là nhờ có Meth tạo ra xung lượng thần kinh ở các tế bào chuyên tiết Dopamine gia tăng hoạt động. Meth bị cơ thể phân giải sau khi vào cơ thể từ 10 đến 12 tiếng đồng hồ. Con nghiện tìm mọi cách để có liều Meth tiếp theo đưa vào cơ thể. Cứ thế liên tiếp cần liều thứ hai, thứ ba rồi thứ tư cho tới lúc các tế bào tiết Dopamine khánh kiệt ngừng tiết Dopamine cũng là lúc Con nghiện rơi vào trạng thái ngủ rũ từ 24 đến 48 tiếng đồng hồ. Con nghiện tỉnh dậy sau cơ say thuốc đó cũng là lúc tế bào tiết Dopamine hồi phục đòi hỏi phải có Meth để tạo ra xung lượng thần kinh tiết Dopamine. Diễn thế của “Pha” say thuốc lần hai này mới gây ra biết bao tai họa cho người nghiện và những người sinh sống quanh họ. Biểu hiện chung của người say thuốc là khi đó các tế bào chuyên tiết Dopamine đang sung mãn tiết chất dân truyền thần kinh này ào ạt, mạng lưới thần kinh toàn cơ thể tràn ngập Dopamine khiến người dùng cảm thấy rất phấn chấn có khả năng phi thường làm được những việc mà người bình thường không làm được. Qua cơn say, tức là lúc Meth bị đào thải khỏi cơ thể các tế bào chuyên tiết Dopamine ngừng nghỉ. Ngay lập tức người nghiên rơi vào trạng thái ủ rũ, hốt hoảng vô cớ, những ký ức đã từng làm tổn thương tâm hồn họ từ dĩ vãng dồn dập hiện về qua trí tưởng tượng tạo nên một kẻ thù hữu hình đang săn đuổi hãm hại họ và họ có hành động trống trả. Các vụ giết người do “ngáo Đá” luôn diễn ra theo kịch bản này. Sau khi thực hành vi “phi thường” người bệnh rơi vào trạng thái hốt hoảng dẫn tới tự sát. Một điểm quan trọng cần hết sức lưu ý: biểu hiện ngáo đá ở mỗi người bệnh khác nhau, cái khác nhau đó có căn cứ ở nhân thân người bệnh. Đây là bài toán rất phức tạp mà mỗi thầy chữa phải có tấm lòng vị tha, coi người bệnh như người thân của mình mới biết lắng và quan trong là biết thấu hiểu từng hoàn cảnh cụ mới đọc bệnh đúng được.
Một hiện tượng rất nguy hiểm đang diễn ra thời gian qua là một số người có “Bài thuốc gia truyền” , hoặc ngụy tạo là “gia truyền” cũng tiến hành bán thuốc cai nghiện với nhận định chung của họ rất phiến diện về đối tượng nghiện Ma túy Đá. Họ cho rằng: những người này đều là người có trình độ văn hóa thấp, ham hố khoái lạc vì Ma túy mang lại cho họ khoái cảm đó khi được “choác” đủ cữ. Kinh nghiệm gia truyền của chúng tôi cho thấy các đối tương nghiện Ma túy Đá có nhân thân rất phức tạp. Họ bao gồm đủ mọi tầng lớp người trong xã hội từ người nguyên thủ Quốc gia điển hình là trùm phát xít Hít Le, có thể kể thêm Nguyên Soái Lâm Bưu người được Mao Trạch Đông chọn làm người kế nhiệm cai trị nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đều là con nghiện Ma túy hạng nặng. Chúng tôi đã trực tiếp điều trị cho nhiều bạn hữu họ đều là người có trình độ văn hóa cao, từng trái sự đời, lịch lãm trong ứng xử. Bên cạnh đó phần nhiều lại là những người trẻ tuổi, học vấn nông cạn văn hóa rất thấp, họ tìm đến Ma túy Đá là do ham mê khoái lạc, a dua với bạn bè. Những người này đều là người không có tinh thần trách nhiệm với chính bản thân họ và những người thân trong gia đình. Diễn thế của “pha say thuốc” ở những loại người này rất phức tạp qua các hành vi cụ thể của họ để đoán định mức độ ngộ độc Meth. 


A/ Đối với những người có trí thức cao thuộc giới tinh hoa họ tự nguyện tìm đến Ma túy Đá như một liệu pháp thư giãn tinh thần mà các chất kích thích khác như: Cà phê, rượu mạnh, thuốc lá không kích thích được Hệ thần kinh của họ. Những Dân Chơi Ma túy Đá “tài tử” này cho biết: do chơi một liều Ma túy Đá kết hợp với các chất kích thường dùng đã giúp họ làm việc có hiệu quả khi chưa dùng ma túy rất nhiều. Có người còn cả quyết rằng: nếu biết kiềm chế, thỉnh thoảng mới dùng một liều trong những dịp hội ngộ bạn bè thì chất lượng cuộc sống được cải thiện tốt, thậm chí con ngăn được triệu chứng “ tiền trầm cảm” trong giai đoạn đang triển khai một công trình nghiên cứu tầm cỡ cả đời! Có những ca sĩ đã thành danh thú nhận: nhờ một liều ma túy đúng cỡ kịp thời đã giúp cô nàng ở trạng thái ”phiêu du” nhập hồn vào ca khúc rất “tầm thường” lại cất lên những giai điệu quái lạ làm mê đắm người nghe. Nhưng rồi sự thật cay đắng đã đến, là bất kỳ ai cho dù bản lĩnh cao cường đến mức rất cao cũng không tránh khỏi Meth làm cho ngộ độc. Sự ngộ độc Meth của những đối tượng tình hoa thường âm thầm biểu hiện qua những phát ngôn “quái dị” của những người có trí tuệ cao lại bỗng dưng phát ngôn ngây ngô, hợm hĩnh hoặc đưa ra những “phát minh” kỳ quái khiến mọi người ngạc nhiên sửng sốt và sau đó chỉ có tác dụng gây cười. Nêu những ví dụ về các hiện tượng “Tâm thần Chính tri”; “tâm thần khoa học”;” tâm thần văn chương, nghệ thuật” luôn xuất hiện trên mạng thông tin xã hội mấy năm này thì quá nhiều mang tính phổ biến mà mọi người đều biết. 
B/ Với đối tượng chưa trưởng thành, học vấn thấp lại sinh trưởng trong hoàn cảnh gia đình nghèo nàn lạc hậu khi mắc cơn say thuốc mới thực sự là tai họa cho bẩn thân, gia đình họ và Cộng Đồng Xã hội. Những bệnh nhân này tìm đến cơ sở điều trị khi bệnh đã quá nặng vì nhiễm độc Meth trong thời gian rất dài khi mà nhiều cơn “Ngáo Đá” làm chấn động gia đình và Cộng Đồng. Nhưng do gia đình nghèo nàn lạc hậu không hiểu tai họa của bệnh đang diễn biến rất phức tạp ở người bệnh và không có khả năng chữa trị. Đây chính là một tồn tại nhức nhối cho Chính quyền Địa phương. Nếu tập trung họ lại vào một trại cai nghiện để chữa trị thì ngân sách Nhà nước Địa phương không chịu nổi. Hơn nữa hiệu quả cai nghiện ở các Trại rất thấp vì phác đồ điều trị được xây dựng trên cơ sở đoán bệnh sai chưa đúng và thuốc điều trị vẫn chỉ mang tính đối phó triệu chứng tạm thời. Tây Y đã thẳng thắn thừa nhận: y văn trên thế giới chưa ghi nhận có một loại thuốc hoặc phương pháp đặc trị nào dùng để chữa khỏi cho những bệnh nhân nghiện ma túy đá. Giải pháp tạm thời các bác sĩ sử dụng chỉ có cách giảm tần suất, giảm liều lượng rồi dẫn đến từ bỏ việc sử dụng ma túy đá. Bác sĩ Nguyễn Khánh Duy, nguyên Giám đốc Trung tân cai nghiện Thanh Đa Duy lý giải: "Sau khi cắt cơn, điều trị tâm lý, các em trở về gia đình nên chúng tôi không thể quản lý các yếu tố nguy cơ tái như môi trường sống, bạn bè cũ nên rất dễ tái nghiện. Nhiều em chơi quá liều dẫn đến tâm thần trước khi trở lại trung tâm. Gia đình có con em nghiện ma túy dường như phải đối mặt với cuộc sống như địa ngục. Ma túy đá đang trở thành cơn ác mộng tàn phá cả một thế hệ",( trích theo Zing ngày 9/6/2017).


1.2. Lý giải bệnh ngộ độc Ma túy Đá theo kinh nghiệm của Việt Y cổ truyền bằng ngôn y Hiện Đại.
Từ những triệu chứng biểu kiến của Người Nghiện Ma túy Đá tuy muôn màu muôn vẻ khác nhau mang sắc thái Tâm Lý Học, nhưng cái gốc của bệnh nghiện Ma túy vẫn là Sinh Lý Học. Vả chăng, cái Tâm Lý luôn là hệ quả của cái Sinh lý, tuy nhiên đến lượt Nó Cái Tâm Lý lại tác động ngược trở lại kích động cái Sinh Lý khốc liệt hơn trước khi mắc bệnh. Thầy chữa bệnh nghiện Ma túy cần đặc biệt ghi nhớ điều này.
Hành vi của Con Người chủ động đưa Meth vào cơ thể là trái với diễn thế tự nhiên Sinh Học của sự sống. Theo diễn thế sinh học tự nhiên trong cơ thể người, các tế bào chuyên tiết Dopamine chỉ được tự động kích hoạt khi mà cơ thể có nhu cầu làm dịu Não. Khi Não có dấu hiệu căng thẳng thì các tế bào tiết Dopamine ở vùng Dịu Não bắt đầu khởi động và tiết Dopamine. Liền sau đó là những vận động của cơ thể có nhu cầu thư giãn tạo ra khoái lạc thì mạng lưới chuyên tiết Dopamine ở phần ngoại biên khu trú ở Phổi, Gan, Thận, Dạ Dày và Da mới bắt đầu hoạt động để hỗ trợ cho những xung động sinh học gây cảm hứng. Việc đưa hóa chất tổng hợp vào cơ thể để kích hoạt xung động Sinh học là hành vi “Phản lại Tự Nhiên”. Hành vi đó không có tính Nhân Văn trực tiếp phản lại tính người. Chúng ta cần thảo luận sâu hơn về cấu tạo của Hợp chất Methamphetamin để thấy hết tính phản Nhân Loại của loại thuốc độc này.
Methamphetamin được người Nhật Bản “sáng tạo” ra từ năm 1917 bằng cách Methyl hóa Amphetamin. Tên khoa học: ± - S-Ndimethylphenthylamine
- Công thức: C10H15N
- Dạng bào chế: Bột tinh thể, viên nén, con nhộng hoặc dung dịch

Sản phầm Methyl hóa Amphetamine

Amphetamine có nguồn gốc thực vật là cây Ma Hoàng được tổng hợp lần đầu năm 1887 tại Đức chứa 2 ankaloit chính là ephedrine và pseudoephedrine. Ma hoàng là vị thuốc đã được sử dụng phổ biến từ rất lâu trong Y học cổ truyền. Amphetamine với liều vừa phải có tác dụng làm tăng khả năng làm việc trí óc, giảm buồn ngủ, tăng sức lực, với liều cao gây choáng, suy sụp, không muốn ăn uống, loạn nhịp tim, đột qụỵ và tử vong. Amphetamine là chất gây nghiện nguy hiểm khi người ta dùng nó để chế biến các loại thuốc gây chứng co giật: Lắc. Hành vi Methyl hóa Amphetamine tạo ra hợp chất mới là Methamphetamine còn nguy hại hơn nhiều. Vậy Methyl hóa là gì? 
Theo nghiên cứu của các nhà Sinh học có uy tín cao trên phạm vi toàn thể giới thì Methyl là diễn thế của một quá trình phát triển Sinh- Hóa, sản phẩm nhánh trong quá trình chuyển hóa của sự sống Con Người. Methyl là tên gọi của Methane tham gia chuyển hóa bị đấy mất một nguyên tử Hydroge, phàn còn lại là một nhóm chất hữu cơ, có công thức hóa học là – CH3. Methyl là một nhóm đấy Electron, có mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ.
Methamphetamine (METH) được tạo ra do Methyl hóa Amphetamine nghĩa là một nhóm methyl chức năng (-CH3) được gắn vào phân tử amphetamine để tạo thành methamphetamine (methyl + amphetamine).Khi vào cơ thể, methamphetamine phân hủy thành amphetamine. Sự khác biệt chính giữa methamphetamine và amphetamine ở quá trình điều chế và tiềm năng kích thích thần kinh trung ương. METH có tác dụng dược lý mạnh hơn, kéo dài hơn và độc hại hơn so với amphetamine phần lớn do nhóm N-methyl (gọi tắt là "meth") trong công thức hóa học của methamphetamine làm giảm sự phân cực tế bào, cho phép dễ tan trong lipid hơn, dễ xuyên qua hàng rào máu não. Methamphetamine tan được trong nước, có thể sử dụng đường hút, hít, đặc biệt là ở dạng tinh thể có thể dùng đường tiêm, và hấp thụ vào cơ thể nhanh hơn so với amphetamine không methyl hóa, do vậy cho tác dụng mạnh hơn. Hơn nữa, methamphetamine ổn định hơn amphetamine vì khả năng chống suy thoái enzyme monoamine oxidase tốt hơn.
METH cũng gián tiếp ức chế tái hấp thu các chất dẫn truyền thần kinh, làm cho chất dẫn truyền thần kinh tồn tại lâu hơn tại khe synap . Công thức hóa học của:
- Amphetamine: C9H15N và
- Methamphetamine: C10H15N
Ngoài ra, so với amphetamine, METH kích thích mạnh hệ thống thần kinh trung ương, trong khi kích thích rất kém đối với hệ thần kinh và tim mạch ngoại vi. Sự khác biệt nữa là amphetamine gián tiếp kích thích hệ thần kinh trung ương bằng cách kích hoạt phát hành các catecholamine, đồng thời ức chế tái hấp thu và tăng lưu trữ catecholamine tại màng synap trước. Ngược lại, METH trực tiếp kích thích các thụ thể catecholamine ở màng sau synap. Cả amphetamine và methamphetamine đều có hai đồng phân, levorotary và dextrorotatory. Amphetamine là levoamphetamine (l-amphetamine) thực sự và đó cũng là dextroamphetamine (d-amphetamine). L-amphetamine rất yếu, nó có tác động rất ít lên hệ thần kinh trung ương (CNS) và khả năng gây nghiện yếu. Tuy nhiên, dextroamphetamine lại mạnh hơn amphetamine gấp nhiều lần. Thực tế khi người ta thường nói về ảnh hưởng "tốc độ" (speed) của amphetamine chủ yếu là về dextroamphetamine. Sự khác biệt giữa levo (trái) và dexto (bên phải) được minh họa giống như 2 bàn tay của một người, tuy là 2 chất tương tự, nhưng sức mạnh lại khác nhau.
METH có thể được dùng theo đường tiêm, hít, hút, hoặc nuốt. Tính chất gây nghiện của meth là do sự phóng thích nhanh gần như ngay lập tức chất dopamine tại não. METH tác động lên não bằng cách làm tăng nồng độ các catecholamine (ephinephrine, norepinephrine, dopamine và serotonin). Sự gia tăng này thông qua ba cơ chế: giải phóng chất dẫn truyền thần kinh, ngăn chặn tái hấp thu và làm chậm sự chuyển hóa. Không chỉ ngăn chặn tái hấp thu dopamine, mà còn làm đảo ngược các hoạt động của chất dẫn truyền thần kinh dopamine (DAT), bơm chất dẫn truyền thần kinh ra khỏi sợi trục tế bào thần kinh mạnh hơn là tái hấp thu dopamine và dự trữ tại các túi tiếp hợp, làm ngừng hoạt động của dopamine tại các điểm tiếp nhận. Hiệu ứng cấp tính của METH là một tình trạng quá dư thừa catecholamine và serotonin, dẫn đến cảm giác kích thích và sảng khoái cao độ, làm tăng sự tỉnh táo, tăng tập trung chú ý, tăng động lực, tăng khí sắc, tăng năng lượng và giảm sự thèm ăn. Tác dụng tức thời của METH là tăng khả năng nhận thức. Các rối loạn tâm thần tức thời có thể bao gồm lo lắng, bồn chồn và mất ngủ. Chỉ trong vài ngày tiếp xúc với METH, thay đổi “Sinh Hóa Não”theo chiều hướng thèm khát ( hội chứng nghiện) Meth bắt đầu xuất hiện.Sử dụng METH dài hạn là một cách tạo ra một trạng thái cạn kiệt nhanh chóng Catecholamine và Serotonin, gây mệt mỏi, trầm cảm, hôn mê và mất khoái cảm.
Ghi chú về Catecholamin và Serotomin:
- Catecholamin là một nhóm chất các Hocmon tương tự nhau được sản xuất bới phàn bên trong của tuyến Thượng Thận.Tuyến Thượng Thận nhỏ hình tam giác nằm ở đầu mỗi Thận. Catecholamin gồm ba chất chính là: Dopamin, Epinephine ( adrenaline) và Norepinphrin.
Vai trò chính của catecholamines là giúp cơ thể thích ứng với stress cấp tính và mạn tính. Adrenaline chủ yếu ảnh hưởng đến các cơ tim và chuyển hóa, trong khi noradrenaline hoạt động như một chất gây co mạch (vasoconstrictor) ở các động mạch ngoại vi. Các catecholamine có tác dụng làm tăng nhịp tim, huyết áp, nhịp thở, trương lực cơ và tăng cảm giác trí tuệ. Chúng cũng làm giảm khối lượng máu đến da và làm tăng lượng máu đến các cơ quan nội tạng chính như não, tim và thận.
- Serotonin có Công thức phân tử C10H12N2O
Serotonin (hay còn được biết đến Hydroxytryptamine-5, 5-HT) là một chất dẫn truyền thần kinh Monoamine được phát hiện vào năm 1935 bởi nhà khoa học người Ý Vittorio Erspamer. Serotonin chủ yếu được tìm thấy trong đường tiêu hóa và hệ thống thần kinh trung ương. Khoảng 80 % tổng số serotonin của cơ thể con người nằm trong ruột, được sử dụng để điều chỉnh chuyển động ruột, 20% còn lại được tổng hợp trong tế bào thần kinh Serotonergic trong thần kinh trung ương, nơi nó có nhiều chức năng khác nhau: điều chỉnh tâm trạng, sự thèm ăn, giấc ngủ, co cơ và một số chức năng thuộc về nhận thức. Serotonin bị suy giảm dẫn đến việc cảm thấy buồn chán, giảm sự ham muốn, giảm quan tâm hoặc dễ dàng cáu giận, gặp khó khăn trong việc hoàn thành công việc. 
2.Chiến lược điều trị bệnh nghiện Ma túy Tổng hợp (Meth) của Việt Y cổ truyền.
2.1 Phác đồ điều trị
A/ Dùng kỹ thuật Dẫn trí ( Thôi miên và hướng dẫn người bệnh tự thôi miên) để thiết lập lại Hệ Thống Điều Phối Chức Năng đã bị Meth làm rối nhiễu.
Người nghiện Meth khi tìm đến thầy chữa thường có thâm niên nghiện không dưới ba năm. Đối diện với thầy chữa lúc này dù người bệnh có khuôn mặt trẻ thơ, dáng vẻ nhu mì thì thực chất đây đã là một con người từng trải lõi đời rồi đấy. Những điều người chơi Meth nói về diễn biến đang diễn ra ở cơ thể mình với thầy chữa đều pha lẫn giữa thực và giả rối. Đặc biệt là khi nói về sức khỏe tâm thần của mình thì người nghiện Meth luôn khảng định họ rất tỉnh táo, sáng suốt, họ chỉ bị chứng mất ngủ và hay đau đầu thôi chứ không có bệnh gì khác.Nghiệm trọng hơn nếu con nghiên còn trẻ tuổi lại có bậc phụ huynh hiểu biết nửa vời về Ma túy Đá thường có nhận định: Ma túy Đá không gây nghiện. muốn bỏ chỉ cần cách ly với nguồn cung và ăn uống đủ chất là khỏi ngay thôi mà! Cháu nó vẫn tỉnh táo khỏe mạnh có sao đâu! 
Thực tế không phải như vậy. Ma túy Đá gây nghiện ngay sau liểu đầu tiên, chỉ cần nhìn thấy bóng của người bạn cùng hút là cơ thể nôn nao thềm nhớ “Cóng hút” rồi. Khi dùng He rô in có thể chỉ tiến hành một mình, thậm chí còn lén lút nữa. Nhưng, với Meth thì phải có Hội và phải triển khai thành Tiệc trong một không khí huy hoàng. Dân chơi Meth chuyên nghiệp còn coi tiến hành Tiệc Meth là một cuộc thác loạn, là “Đỉnh” cuộc sống hưởng thụ cả về thể xác và tâm thần. Những cuộc làm tình Đồng Giới nóng bỏng luôn có mặt trong những bữa tiệc Meth. Khi ta đã buông thả cho bản năng lộng hành thì Tiệc Meth là đỉnh cao của thác loạn. Nghiện Meth khốc liệt hơn nghiện thuốc phiện là như vậy.
Khi thăm khám cho bệnh nhân nghiện Meth, thầy chữa buộc phải tự trang bị năng lực dẫn trí tức phải có Trường Sinh Học khỏe mạnh đủ sức áp đảo Trường Sinh Học đang phát rối của bệnh nhân. Trường Sinh Học của một con người luôn toát ra khi người đó bộc lộ tâm thế của mình. Từ trường đó có hình Ê líp khi ta đứng thẳng và có hình tròn khi ta ngồi. Tâm điểm của từ trường là đôi mắt. Sức rung của từ trường là giọng nói, hoạt động của từ trường là toàn bộ chuyền động của ngôn ngữ hình thể. Người nghiện ma túy nói chung đều có Trường Sinh Học rối nhiễu khi mạnh khi yếu, thậm chí có lúc từ trường tắt lịm. Nhưng dù mạnh yếu có lúc khác nhau tâm điểm từ trường sinh học của người nghiện Meth luôn chao đảo theo một vòng tròn. Vòng tròn đó rất rộng khi người bệnh sống giữa cộng đồng, họ có thể nhìn thấy những vật thể mà những người xung quanh không để ý, trong đầu họ luôn dội về những âm thanh từ nơi xa vắng vọng về. Đây chính là điểm xuất phát cho chứng hoang tưởng “ảo thị”, “ảo thanh” ở người nghiện Meth. Tâm điểm từ trường Sinh học của người nghiện Meth khi ở một mình hoặc ngồi yên lại là vòng tròn rất hẹp rất khó giao hòa với xung quanh. Đây chính là điểm xuất phát cho chứng bùng phát sự điên rồ mà chính người bệnh cũng không dự cảm được. Bởi vì, khi tâm điểm của trường sinh học thu hẹp lại cũng có nghĩa năng lượng của từ trường dồn tích nén lại. Nếu ở người khỏe mạnh sự nén lại đó như là sự tập trung rồi lại bung ra từ từ theo nhịp sinh học. Với người nghiện Meth, từ trường bị rối nhiễu thì sự nén lại đó phải qua nhiều nhịp sinh học mới tự bung ra, sức bung cũng bằng với số nhịp sinh học bị nén lại nên thường là rất mạnh khác thường. Hành vi “Ngáo Đá” điên cuồng của người nghiện Meth tuân theo quy luật này. Kinh nghiệm lâm sàng cho Thầy Chữa một tín hiệu để thấy cơn bão hoảng loạn “ ngáo Đá” sắp diễn ra đó là đôi mắt người nghiện vằn lên những tia mầu đỏ chói. Nếu đo huyết áp cho Bệnh nhân thì chỉ số sẽ là 170/100, nhịp tim không dưới 100. Lúc này Thầy Chữa phải thu hẹp từ trường của mình lại bằng cách cụp mi mắt xuống cùng với lời nói dịu dàng dẫn dụ trấn an người bệnh, cùng với làm các động tác nghiệp vụ y tế hạ huyết áp, hạ nhịp tim trong tâm thế đang bị Thầy chữa thôi miên.( Xin đọc bài: Liệu pháp Thôi Miên đăng trên trang Việt Y Cổ truyền).
Cần đặc biết chú ý trong suốt quá trình điều trị cho người ngộ độc Meth của Việt Y cổ truyền thì Kỹ Thuật Dẫn Trí (Thôi Miên) luôn là thao tác nghiệp vụ y tế để triển khai mọi thời hiệu của phác đồ điều trị. Cần nói thêm về quan niệm Thôi miên của Việt Y cổ truyền. Thôi miên thực chất là liệu pháp thiết lập lại Hệ Thống Phối Hợp chức Năng của cơ thể đã bị Meth làm cho rối nhiễu. Liệu pháp Thôi miên của Việt Y cổ truyền dựa trên cơ sở lý thuyết về vận hành Cơ Địa của một con người.( Xin đọc bài Cơ Địa là gì? Đăng trên Việt Y Cổ truyền). Khi cơ thể người bị nhiễm độc của một tác nhân nào đó cho dù tác nhân đó là: “Nội Nhân”, “Ngoại Nhân” và” Bất Nội Ngoại Nhân” đều làm cho “Thể lực của Cơ Địa” và “Trí Lực của Cơ Địa” xa rời nhau. Giải độc là làm cho hai mặt của Cơ Địa hòa hợp với nhau. Thao tác của “Thuật Thôi miên” diễn ra ở toàn thân trên nền tảng của sự vận hành các Mô Liên Kết. Mô Liên Kết thực chất là cầu nối Sinh Lý Học của các thành viên cấu thành cơ thể sống. Sự sống của cơ thể sinh vật là sự thích nghi luôn biến đổi theo môi trường sống- Cần hiểu Môi Trường Sống theo nghĩa rộng bao gồm môi trường sinh học và Môi trường Xã Hội Học. Đối với Đời Sống Con Người, Môi trường Xã Hội Học cực kỳ quan trọng, chỉ cần một lời “Nói Kháy” mang tính miệt thị là có thể rút dao xin nhau tí tiết rồi! 
Cơ thể sống bao gồm rất nhiều bộ phận nhưng luôn là một khối thống nhất. Nói cơ thể luôn là một khối thống nhất thì cần hiểu sự thống nhất đó do Liên Lập mà thành. Đơn vị nhỏ nhất của cơ thể sống là Tế bào. Các Tế bào cùng một chức năng sống gắn kết với nhau thành các Mô; các Mô cũng chức năng sống liên kết với nhau cấu thành các Cơ quan của thể sống .Các Cơ Quan của cơ thể sống phối hợp với nhau làm nên sự sống thường ngày thông qua Các Hệ Thống Phối Hợp Chức Năng.
Các Hệ Thống Phối Hợp Chức Năng được Tây Y phát hiện từ cuối thế kỷ thứ 19 và liên tục bổ xung hoàn thiện suốt thế kỷ thứ 20 để có diện mạo như đang thấy ngày nay. Khởi đầu là Claude Bernard, ông là một người Pháp, sinh tháng 7 năm 1813 và mất ngày 10 tháng 2 năm 1878. Ông được nhà sử học I. Bernard Cohen của Đại học Harvard gọi là "một trong những người đàn ông vĩ đại nhất của khoa học".Một trong những thành tựu của ông là lần đầu tiên đề nghị việc ứng dụng các thử nghiệm mù (blind experiment) để đảm bảo tính khách quan của việc nghiên cứu khoa học. Ông là người đầu tiên định nghĩa thuật ngữ milieu interieur; (giới khoa học hiện nay gọi là cân bằng nội môi (homeostasis). Định nghĩa khoa học thiên tài này bắt nguồn từ một thí nghiệm mang tính “dò tìm”: Ông cho châm kim vào phần đáy của Não Thất Thứ Tư và đã gây ra bài tiết rất nhiều đường qua nước tiểu. Thí nghiệm này chứng minh tầm quan trọng của điều hòa Đường Máu, đồng thời chứng minh sự chuyển hóa Glucid do Hệ Thần Kinh Thực Vật. Khái quát thí nghiệm này Claude Bernard đã tóm lược được điều cơ bản, rằng: Toàn bộ các điều hòa ở mức cơ thể có mục đích duy trì sự bất biến của cấu tạo và chức năng của Các Hệ Thống này. Nhà Sinh Lý học người Anh đã dùng Danh từ “Hằng định nội môi” để chỉ sự ổn định của Môi Trường Cơ Thể của Claude Bernard và được cộng đồng các nhà khoa học tán thành.
Các Hệ Thống Phối Hợp Chức Năng hiện nay bao gồm các Hệ Thống sau đây:
- Hệ Thần kinh Tự Đông: Hệ này gồm các sợi thần kinh có mặt tại các Tổ Chức và Cơ Quan của toàn cơ thể. Các chất trung gian của Hệ này là: Adrenaline, Noradrenaline và các Catecholamines khi được giải phóng tiếp xúc với các Mô như Cơ Trơn của thành mạch làm cho Trương Lực tăng lên hoặc giảm xuống. Chức năng của Hệ này không chịu sự điều khiển của ý muốn của con người và bảo đảm sự điều hòa chức phận tự động. Meth thâm nhập vào Hệ Thần kinh tự động đã làm rối loạn nhịp tiết các chất trung gian dần truyền thần kinh gây ra tình trạng tăng giảm trương lực thất thường dẫn tới tê liệt các chức năng vốn có của cơ thể.Tuy nhiên Hệ thần kinh tự đông không phải là yếu tố duy nhất bảo đảm phối hợp các chức phận của cơ thể.
- Các Hoc Môn: Là sản phẩm của tuyến nội tiết các Hoc môn cũng có vai trò phối hợp các chức phận của cơ thể, nhưng lại gắn bó với Hệ thần kinh Tự Động theo một cơ chế rất phức tạp. Việc điều tiết các Hoc môn phần lớn chịu sự điều hòa của Hệ thần kinh Tự Động; đến lượt Nó, cũng chịu sự ảnh hưởng “hồi tác” của các Hóc môn tới một tuyến Trung Ương là Tuyến Yên. Những chất tiết ra (bản chất Hoc Môn) gây nên sự tiết ở các tuyến Nội Tiết ở ngoại biên giống như hệ thông “Phanh Sinh Học” để kim chế họa động. Tuyến Yen nhận những kích thích dương tính đối với Nó liền phát ra các tín hiệu tới các Tuyến Ngoại Vi. Hoạt động của Hệ thống Thần kinh –Hóc Môn này là chủ đề của nhiều Công trình nghiên cứu trong những thập kỷ cuối của Thế kỷ 20. Bởi vì, cho tới những năm cuối của Thế ký thứ 20 trí tuệ Hóa -Sinh- Y học của con người mới bước đầu nhận ra cái gọi là “Thời Sinh Học” của các Hóc Môn. Hiểu được các loại Hóc môn có trong cơ thể hoạt động như thế nào, cụ thể là Hóc Môn chuyên biệt đó được tiết vào lúc nào, tiết bao nhiêu, khi nào thì ngừng tiết…trong trạng thái của cơ thể con người,( gọi thời Sinh học là như vậy đó).
Các Hoc môn của các tuyến Nội tiết sản xuất ra Tuyến Giáp, Buồng Trứng, Dich hoàn… sẽ tác động từ xa tới các tế bào Gan để chúng tổng hợp hoặc thoái biến các dự trữ Đường và sự đốt cháy rất cần cho phần lớn các hoạt động của các tế bào và của toàn cơ thể sống. Các Hóc môn đó còn tác động trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát các gien và do đó tác động trên chuyển hóa tế bào. 
Chuyển hóa tế bào là diễn thế của sự sống.Sự tiếp xúc giữa tế bào và môi trường trong cơ thể được tiến hành nhờ một cơ chế các Trạm Tin (các Thụ Thể) thu nhận tin từ các chất đưa tin: Hóc Môn, Cytokine (dịch bào trung gian), Yếu Tố Tăng Trưởng. Các Trạm Tin này là các Thụ Thể (protein xuyên qua Màng Tế Bào). Phần nằm Ngoài Tế Bào có khả năng nhận biết tin và Phần Nằm Trong Tế Bào có trách nhiệm truyền tin vào trong Nhân Tế Bào. Các “Bơm Calci” chỉ huy sự tự động điều hòa của lưu lượng ion Calci qua màng. Khi một Hóc Môn cùng hoạt động với Thụ Thế của nó, số lượng ion Calci vào trong tế bào tăng. Sự gia tăng nồng độ cận màng về ion Calci kích thích một bơn Calci khác bằng cách hoạt hóa một Protein gắn các ion Calci. Bơm Calci cân bằng sự vào ra của các ion Calci trong tế bào. Sự gia tăng nồng độ cận màng về ion Calci, kết quả của tái chu kỳ là một tín hiệu mới Calci. Calci là cần thiết cho mọi phản ứng tế bào kéo dài. Meth thâm nhập vào Hệ thống Thần kinh –Hóc Môn làm tê liệt tính chất “phanh Sinh Học” của Hệ thống này. Đây chính là nguyên nhân gây mất thăng bằng sinh học trong cơ thể người nghiện Meth, nó tạo ra tính khí thất thường khi thì bốc đồng rồi bỗng dưng sa vào trầm uất và nguyên nhân sâu xa của mọi biểu hiện Trầm Cảm. Việt Y cổ truyền trong tổng thể chiến lược cai nghiện Meth tập trung giải cứu nguy cơ này.
Điều đặc biệt thú vị là khi phát hiện Các chất Cơ Bản ngoài Tế Bào cùng cơ chế hoạt động của nó trong Hệ Thống Phối Hợp Chức Năng của cơ thể sống đã làm sáng tỏ kinh nghiệm chữa bệnh lâu đời của Việt Y cổ truyền, đó chính thuật Dẫn Trí của Việt Y, ngoài Đời gọi là Thôi Miên. Các Chất Cơ Bản Ngoài Tế Bào được khoa học giải phầu của Tây y phát hiện ở thế kỷ 20 gồm 4 loại Phân tử lớn: Chất tạo keo thường gọi là Collagen; Elastin; Proteo Glycan; và Glycoprotein Cấu trúc. Phần lớn các phân tử của cơ thể đều có thể tiết ra một số Đại Phân tử thuộc 4 loại đó, theo một chương trình hình thành trong quá trình phát triển phôi và tiếp tục trong giai đoạn trưởng thành và lão hóa. Chương trình này đặc hiệu cho mỗi tế bào đã biệt hóa và mỗi Mô. Tùy theo diễn biến của chương trình này Chất Cơ Bản Ngoài Tế Bào sẽ có một thành phần cấu trúc khác nhau giữa mô này và mô kia, cho phép bảo đảm một vai trò sinh học nhất định. Ví dụ: Sức bền cơ học của xương, các gân, sự mềm mại của da, sự đàn hồi của mạch máu và phổi. Nhưng vai trò cơ học này, chất Cơ Bản Ngoài Tế Bào này còn bảo đảm sự điều hợp của các tế bào, trong Mô, trong Cơ Quan và trong các cơ quan của cơ thể. Để đạt được sự phối hợp tinh vi đa diện đa chức năng như vậy thì cấu trúc của các Chất Cơ Bản Ngoài Tế Bào có các nguyên bào sợi được lồng vào giữa các thành phần cấu tạo của Chất Cơ Bản mà nó tạo nên. Vai trò điều hợp các Chất Cơ Bản được thể hiện bằng co cơ trong mỗi bó được một tấm lien kết bao bọc; toàn bộ bó có được một lớp cơ bao bọc, Mô này tiếp tục bằng một Gân gắn chặt vào màng xương. Sự liên tục của Chất Cơ Bản Ngoài Tế Bào giữa các sợi cơ và xương bảo đảm tính hiệu quả của các dộng tác co cơ và tính chính xác của động tác trong cơ thể. Meth thâm nhập và cơ thể làm rối nhiễu chương trình đặc hiệu hằng định của các Chất Cơ Bản Ngoài Tế Bào khiến người nhiễm Meth không làm chủ được hành động của mình. Thuật Dẫn trí (Thôi miên) giúp người bệnh khôi phục lại chương trình sinh học tự nhiên của cơ thể. Những động tác như “Thả lỏng toàn thân”, đưa cơ thể vào trạng thái ‘trống rỗng”, ‘ngừng thở chủ động đột ngột rồi thở mạnh liên tiếp” theo hướng dẫn của thầy chữa chính là giải thoát các cơ liên kết của các Chất Cơ Bản ngoài Tế Bào; đưa các Chất Cơ Bản Ngoài Tế Bào trở về chương trình sinh học tự nhiên của cơ thể. Thở sâu bằng Bụng và dùng cơ Hoành Cách Mô để tạo tác những lực đẩy, ép các Chất Cơ bản Ngoài tế Bào hoạt động, kết hợp với uống thuốc đặc trị để khôi phục lại các Chương trình phối hợp chức Năng của cơ thể.


B/ Thuốc điều trị bệnh nhân nhiễm Meth của Việt Y cỏ truyền.
- Thuốc giải độc 
Việt Y xác định người nghiện Meth là Hệ Thần kinh bị nhiễm độc tố chứa trong Meth. Do đó thuốc chữa của Việt Y tập trung vào hóa giải độc tố của Meth. Liều thuốc giải độc cho người nhiễm Meth uống đầu tiên ngay sau khi trải qua bài luyện thuật Thôi Miên là thuốc Giải độc cho các tế bào thần kinh. Cần lưu ý đặc điểm của tế bào thần kinh là loại tế bào đã được biệt hóa ngay từ trong phôi thai và sống mãi với cơ thể sống không phân chia theo một chương trình định trước của cơ thể sống. Là tế bào chuyên biệt phản ứng trực tiếp với môi trường sống ngay cả trong và ngoài cơ thể, nên màng tế bào thần kinh có cấu trúc đặc biệt rất nhậy cảm với biểu hiện nhỏ nhất của Môi trường. Một đặc điểm có tính “Thiên định” khi thầy thuốc làm việc với tế bào thần kinh phải luôn ghi nhớ Thiên Chức của nó là truyền tin đi toàn cơ thể qua các xung thần kinh; vì thế, khác với các tế bào khác năng lượng trong tế bào thần kinh luôn có hàm lượng điện năng thường trực luôn vượt trội. ( Ghi chú: Năng lượng là một đại lượng sinh công. Năng lượng trong mọi tế bào luôn có 3 loại: Hóa năng tích chứa trong các phản ứng hóa học; Nhiệt năng để duy trì sự sống tế bào và Điện năng. Điện năng hiện diện ở mối tế bào là sự chênh lệch về nồng độ của các Ion trái dấu ở hai phía của màng tế bào có khả năng tạo sự chệnh lệch điện thế. Năng lượng chủ yếu trong mỗi tế bào là Hóa năng tiềm ẩn trong các liên kết hóa học). 
Tế bào thần kinh khi nhiễm Meth năng lượng tiềm ẩn trong tế bào liền bị đảo lộn trật tự hằng định khiến nó không thực đúng và đủ Thiên Chức dẫn truyền thông tin cho toàn cơ thể. Người nhiễm Meth trở nên người không bình thường vì thông tin của cơ quan trong cơ thể không được thông suốt. Hiện tượng” Chập cheng” ở người nghiện chính là do thông tin sinh học trong cơ thể bị gián đoạn, các tin Sinh- Lý, Hóa bị xuyên tạc đã tạo ra những ửng sử thất thường. Liều thuốc giải độc của Việt Y đầu tiên là lập lại trật tự thông tin. Các vị thuốc mang đặc tính “Dung Dược” của Việt Y cổ truyền đã lập lại thế chênh lệch ion trái dấu ở hai phía tế bào, tạo ra các “Sung thần kinh” hằng định khai thông dòng thông tin bị Meth là rối nhiễu. Nhờ khai thông được dòng thông tin trong toàn Hệ thống mạng lưới thần kinh nên các Hệ thống phối hợp chức năng của toàn cơ thể từng bước được hồi phục nên người bệnh ngày càng như khôn ra, hiện tượng trầm uất, tự kỷ thưa dần tiến tới hòa nhập được với cuộc sống gia đình và Cộng Đồng.Thuốc giải độc còn đóng vai trò quan trọng thanh lọc máu lập lại tỷ lệ hằng định của thành phàn cấu tạo máu, đặc biệt tỷ lệ huyết thanh trong huyết tương đã bị Meth làm cho thoái biến. Thuốc giải độc uống song song với thuốc Phục thần để luôn hỗ trợ làm phục hồi chức năng của các tế bao thần kinh. 
- Liều thuốc Phục Thần. Là biệt dược của Việt Y cổ truyền chuyên trị những tổn thương trong mỗi tế bào do Meth gây ra. Thuốc Phục Thần được uống liền ngay sau thuốc giải độc 1 giờ. Nội dung chính của thuốc Phục Thần là khôi phục lại những cấu tử trong nội bào của các tế bào chuyên tiết chất dẫn truyền thần kinh đã bị Meth làm cho kiệt quệ. Đối tượng mà Phục Thần hướng tới để điệu trị là các tế bào chuyên tiết Catecholamin. Như đã nói ở phần trên Catecholamin là một nhóm chất rất cần cho các cơ tim và chuyển hóa, trong khi noradrenaline hoạt động như một chất gây co mạch (vasoconstrictor) ở các động mạch ngoại vi. Các Catecholamine có tác dụng làm tăng nhịp tim, huyết áp, nhịp thở, trương lực cơ và tăng cảm giác trí tuệ. Chúng cũng làm giảm khối lượng máu đến da và làm tăng lượng máu đến các cơ quan nội tạng chính như não, tim và thận. Meth đã làm cạn kiệt Catecholamin, Phục thần khôi phục lại lương Catecholamin hằng định. Uống phục thần giúp người bệnh có áp huyết, nhịp tim ổn định, tăng trương lực giúp người bệnh tránh được cảm giác mất thăng bằng trong di chuyển. Đặc biệt Phục Thần làm tăng lượng máu đến đến Não, Tim và đặc biệt đến Thận. Uống Phục Thần người bệnh như thấy mình đã có trí tuệ trở lại.
Phục thần còn làm tăng chất dẫn truyền thần kinh Serotonin chủ yếu ở đường ruột giúp người bệnh tìm lại được cảm giác đói và thềm ăn . Đây chính là yếu tố cơ bản giúp người bệnh lấy lại thể lực và niềm vui cuộc sống. Có khoảng 20% còn lại vốn dĩ được tổng hợp trong tế bào thần kinh Serotonergic trong thần kinh trung ương, nhưng đã bị Meth làm cho kiệt quệ, Phục thần giúp tế bào này khôi phục lại chức năng vốn có của nó. Khi phôi phục được sự tiết đều đặn Serotoner nơi nó có nhiều chức năng khác nhau: điều chỉnh tâm trạng, sự thèm ăn, giấc ngủ, co cơ và một số chức năng thuộc về nhận thức. Serotonin được khôi phục ở chính tế bào thần kinh Serotonegic ở chính thần kinh Trung ương sẽ giúp người bệnh khắc phục được sự buồn chán, tăng mọi ham muốn thường tình cần có của một con người. Trong Não người bệnh có đủ Serotonin sẽ khắc phục sự buồn chán, quan tâm đến người thân, không có những cơn cáu giận vô cớ và có tinh thần khắc phục khó khăn trong đời sống thường nhật. Có thể khảng định răng Phục Thận là phương thuốc mang lại hạnh phúc cho người bệnh và niềm vui cho người thân của họ.
2.2 Những liệu pháp phối hợp cùng phác đồ điều trị
Cai nghiện Ma Túy Đá là một cuộc chiến thực sự đối người mắc nghiện và gia định họ. Cuộc chiến này chỉ thành công khi mà người bệnh nhận thức được: muốn sống thì phải cai nghiện. Tuy nhiên, do nhiễm Meth lâu ngày đã phá vỡ trầm trọng tính toàn vẹn của hệ thống thần kinh trung ương, tế bào thần kinh và hệ thống dẫn truyền thần kinh. Sự giảm chất dẫn truyền thần kinh Dopamine liên quan trực tiếp đến sử dụng METH kéo dài. Tổn thương tế bào thần kinh chủ yếu do phá hủy Dopamine ở đầu cuối sợi trục chứ không phải là phá hủy tế bào. METH làm thay đổi sinh hóa và cấu trúc não gây suy giảm chức năng nhận thức. Suy giảm nhận thức bao gồm suy giảm trí nhớ lời nói và trí nhớ hình ảnh, chức năng vận động, sự chú ý và chức năng điều hành đòi hỏi trừu tượng, thiết lập sự di chuyển và ức chế
Suy giảm nhận thức có xu hướng xấu đi ở giai đoạn đầu cai nghiện với Meth , khoảng từ 5 - 14 ngày. Những thiếu sót trong sự chú ý chọn lọc đã được chứng minh là có cải thiện ở 2 tháng điều trị và việc cải thiện trí nhớ lời nói cần 3 - 14 tháng điều trị. ( Với điều kiện bệnh nhân được cách ly hoàn toàn với Meth ). Những con bệnh nặng do sử dụng Meth kéo dài thường có nguy cơ trầm cảm, mất khoái cảm, lo âu, hoang tưởng, ảo thanh và ảo thị cẫn được thầy chữa và gia định phối hợp chăm sóc theo liệu pháp “chăm trẻ mẫu giáo” trong khoảng 3-5 ngày với điều kiện chịu uống thuốc đúng liều. Khi bệnh nhân đã chịu uống thuốc đúng và đủ liều thì bắt buộc bệnh nhân thực hành những thao tác của kỹ thuật tự thôi miên mà thầy chữa đã hướng dẫn. Cẫn lưu ỷ rằng những thao tác của kỹ thuật tự thôi miên nếu được tuân thủ đúng và đủ hàng ngày là sẽ tiết giảm được rất nhiều chi phỉ chăm nom bệnh nhân của gia đình và rút ngắn thời gian điều trị.

Hà Nội tháng 4-5 2018
Lưu Hưng Linh