Dinh dưỡng cho người cai nghiện Ma túy “Đá”

 Lương y: Kiều Bình Vinh Quang

Khi người nghiện ma túy “Đá” đã chấp nhận cai nghiện thì cơ thể của họ đã ở trong tình trạng suy kiệt. Nguyên nhân dễ thấy nhất làm cho người nghiện suy kiệt là triệu chứng không thèm ăn. Triệu chứng không thèm ăn ở người nghiện “ma túy đá” khác hội chứng chán ăn tâm thần. Người mắc Hội chứng chán ăn tâm thần luôn nghĩ về ăn nhưng với cảm xúc sợ ăn làm cho mình bị béo.  Người nghiện ma túy chán ăn vì mất cảm giác ngon miệng, dù món ăn mà họ đang ăn rất hấp dẫn đối với người khỏe mạnh, nhưng người nghiện ma túy lại có cảm giác như đang nhai rơm vậy. Nguyên nhân làm cho người nghiện ma túy có cảm giác này là do chất ma túy gây nên.

Chất Methamphetamine (Meth) nhiễm vào máu của người nghiện làm tăng nồng độ huyết tương của hormon Chlecysto Kinin. Hóc môn này giữ chức phận điều hòa lưu lượng enzym tiêu hóa của tụy tạng và sự co bóp của túi mật. Sự gia tăng nồng độ của peptid hocmon này làm giảm độ nhạy cảm của các thụ thể có mặt ở hệ thần kinh trung ương. Chức phận của các thụ này là kích thích cơ chế điều hòa cảm giác thèm ăn tác động đến toàn bộ chức năng sinh lý trong việc ăn uống.

Do chất Meth có chứa chất làm giảm béo (Ức chế cảm giác thềm ăn) nên đã làm chậm các nhịp co bóp của tế bào cơ trơn thành dạ dày,  hãm lại sự vận chuyển thức ăn từ dạ dày vào tá tràng. Nhịp điệu co bóp dạ dày bị chậm lại làm tê liệt nhịp tháo sạch đã gây ra hiện tượng trào ngược thức ăn trong quá trình tiêu hóa vào khí quản gây nên hiện tượng viêm phổi. Nhịp tháo sạch bị tê liệt làm ứ đọng thức ăn tạo cơ hội tăng sinh vi khuẩn có hại trong dạ dày thiếu axit vì không vận động.

Khắc phục hiện tượng trì trệ tiêu hóa nói trên phải dùng thuốc (đã bố trí trong thuốc dưỡng thần) nhưng phải được phối hợp nhịp nhàng với chế độ dinh dưỡng hợp lý trong quá trình điều trị qua diễn biến Sinh lý tiêu hóa.

Thức ăn mà con người đưa vào cơ thể  trước khi trở thành chất dinh dưỡng duy trì sự sống phải qua đường tiêu hóa. Ở đường tiêu hóa thức ăn được phân giải thành những chất đơn giản nhất để niêm mạc ruột hấp thụ chuyển vào dòng máu lưu thông cung cấp cho các mô tế bào cúa bộ phận cơ thể hoạt động (quá trình đồng hóa – dị hóa). Hệ thống tiêu hóa gồm 4 bộ phận chính tham gia quá trình tiêu hóa cơ học và hóa học thức ăn là: miệng, dạ dày, ruột non, ruột già. Việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể cai nghiện “ma túy đá” phải đặc chú ý đến diễn biến tiêu hóa ở bộ phận miệng, vì đây là khâu đầu tiên mở đầu cho quá trình tiêu hóa.

Tiêu hóa ở miệng: Nếu thức ăn hợp khẩu vị, con người dùng răng và lưỡi nghiền trộn, đạt độ nhuyễn nào đó thì nuốt qua thực quản đẩy thức ăn xuống dạ dày. Ở miệng đã xảy ra hai quá trình: tiêu hóa cơ học và tiêu hóa hóa học.

Tiêu hóa cơ học chủ yếu diễn ra quá trình nghiền xé thức ăn, thời gian và tốc độ nghiền thức ăn ở miệng của người nghiện ma túy thường ngắn vì cơ thể mệt mỏi, mất cảm giác ngon miệng nên thức ăn ở thòi kỳ đầu cai nghiện cần được chế biến đạt độ mềm, nhừ dễ nuốt. Hai ba ngày sau tăng độ cứng và dai của thức ăn kéo dài thời gian nhai để tăng lượng nước bọt phục vụ cho tiêu hóa hóa học.

Tiêu hóa hóa học được thực hiện bởi hai loại men có trong nước bọt là aminaza và mantaza. Hai men này thủy phân tinh bột thành đường Glucose. Nước bọt còn chứa dịch nhày muxin, các muối Clorua, acbonat, sunphat của Na, K,Ca. Độ Ph của nước bọt bằng 7,3 mang tính kiềm, chất diệt khuẩn Líoxim. Khi thức ăn có chất độc, cát và các chất không phải thức ăn lập tức nước bọt ở các tuyến tiết như: tuyến mang tai, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi tiết ra rất nhiều để trung hòa các chất trên để tránh gây độc hại cho cơ thể và bảo vệ niêm mạc lưỡi, miệng. Sự điều tiết nước bọt mang tính cấp cứu này chịu sự điều hòa của Hệ thần kinh trung ương thông qua phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện.

Chất Methamphetamine (Ma túy Đá) làm nhiễu loạn hệ thần kinh trung ương đã làm liệt cơ chế tiết dịch cấp cứu ở miệng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình tiêu hóa hóa học ở miệng. Uống thuốc  và kết hợp với các bài tập xoa bóp vùng mặt, miệng và cổ để kích thích cơ chế tiết nước bọt cấp cứu cho quá trình tiêu hóa hóa học ở miệng là vô cùng quan trọng.

Lựa chọn loại thức ăn mà người nghiện chịu ăn, tức là chịu đưa vào miệng là thành công bước đầu của việc chống suy dinh dưỡng. Khẩu phần thức ăn cho người cai nghiện phải được bố trí đủ thành phần hóa học và dinh dưỡng như sau:

1. Protein (thường gọi là protit hoặc Đạm) là chất hữu cơ quan trọng nhất tham gia cấu tạo tế bào sống, chiếm 1/5 trọng lượng cơ thể. Protein tham gia cấu tạo nên hệ thống men sinh học, các hoocmon là những chất hữu cơ mang hoạt tính sinh học cao giữ vai trò xúc tác trong quá trình trao đổi chất, đồng hóa  dị hóa các vật chất dinh dưỡng từ thức ăn. Hệ thống men sinh học và các hoocmon giúp cơ thể sống tiếp nhận các chất dinh dưỡng từ thức ăn điều hòa nhịp nhàng các hoạt động sống của cơ thể để thích nghi với mội trường sống.

Cơ thể người cai nghiện đã bị kiệt quệ nguồn năng lượng lấy từ mỡ và đường dự trữ thì việc cung cấp Protein là tiếp nguồn cung cấp năng lượng cho sự tồn tại sự sống của cơ thể.

Trong tất cả các loại thức ăn có xuất xứ là chất hóa học hữu cơ đều chứa lượng protein nhiều ít khác nhau: Vật chất khô (còn 14% thủy phần) của gạo, bột mỳ chứa 8 – 9% protein, bột đậu tương chứa 35% protein thô. Bột cá, bột tôm, bột thịt chứa  chứa khoảng 45 – 80% protein thô. Protein từ thức ăn nguồn gốc thực vật có giá trị sinh học (khả năng tiếu hóa và sử dụng) thấp hơn Protein từ thức ăn có nguồn gốc động vật, vì Protein thực vật không đủ 10 axit amin thiết yếu cho nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.

Axit amin (còn gọi là amino axit) được cấu tạo bởi bốn nguyên tố: Cacbon, hydro, oxy, nitơ và một số nguyên tố khác, chúng là những nguyên liệu tạo nên phân tử Protein. Axit amin là hợp chất hữu cơ gồm hai nhóm chức năng: Cácboxyl mang tính tan (-COOH) và nhóm amin (-NH2).

 Trong các sản phẩm sinh học đang có hiện nay người ta đã tìm thấy hơn 100 loại axit amin. Protein ở cơ thể động vật chỉ có từ 23 - 25 loại axit amin, trong đó có khoảng 10 axit amin thiết yếu còn gọi là axit amin không thể thay thế mà cơ thể động vật không tổng hợp được phải đưa từ bên ngoài vào. Những axit amin này là: Arginine, Histidie, Isoleucine, Leucine, Lysine, Metthinine, Phenylanine, Threonine, Trytophan, Vanine. Nếu khẩu phần ăn hàng ngày thiếu một axit amin nào đó thì sẽ gây ra hội chứng “kém ăn”, cơ thể chậm được hồi phục. Tuy nhiên nếu thừa một loại axit “giới han” nào đó thì cơ thể  lập tức phát sinh axit amin “giới hạn” mới làm mất cân bằng axit amin trong khẩu phần ăn dẫn tới làm giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng, cơ thể sẽ gày sút.

 Trong 10 axit amin thiết yếu có mặt 4 loại axit amin thuộc loại đầu bảng nằm trong axit amin “giới hạn” đó là: Lysine, Methionine, Theronine, Tryptophan. Sự nghiệt ngã của tự nhiên trong quá trình cân đối các axit amin buộc con người phải tuân thủ trong quá trình định khẩu phần ăn cho người cai nghiện chất ma túy. Hội chứng suy dinh dưỡng nói chung và suy dinh dưỡng nói riêng ở người nghiện đều bắt nguồn từ tình trang dư thừa và thiếu hụt axit amin.

 2. Vitamin.

 Trong cơ thể động vật cần 15 loại Vitamin với một lượng rất nhỏ tới mg, microgam. Vitamin có tác dụng rất lớn đến quá trình trao đổi protein, lipit, gluxit…và các hoạt động của Hocmon và enzym. Thừa hoặc thiếu bất cứ một loại vitamin nào đều anh hưởng đến sự sống của cơ thể. Bài viết này chỉ nói đến các loại vitamin bị thiếu hụt ở cơ thể người cai nghiện:

 -  Vitamin A (Retinol)

 Vitamin A tham gia vào quá trình trao đổi protein, mỡ , đường, tinh bột, ảnh hưởng đến hoạt động của các tuyến nội tiết (tuyến yên, tuyến thận, tuyến giáp trạng v.v…) đến hệ thần kinh, các lớp niêm mạc ở mắt, mũi, cơ quan sinh dục, tiêu hóa, bài tiết. Vitamin A chống sừng hóa da, chống loãng xương, đặc biệt là chống được stress. Thiếu vitamin A nên người nghiện có thể bị liệt ta chân, mù lòa, chán ăn, tăng áp lực tủy sống. Vitamin A ở huyết tương giảm làm cho dự trữ vitan A ở gan giảm.

Vitamim A có nhiều trong lòng đỏ trứng, dầu cá, gan lợn. Cần cho người nghiện ăn các loại thực phầm này thường xuyên với một lượng nhỏ bổ xung vào các bữa ăn chính.

-  Vitamin D.

Có 10 loại vitamin D, nhưng chỉ có hai loại có tác dụng đối với cơ thể sống động vật là vitamin D là D2 và D3. Tiền chất vitamin D là 7-dehydrorocholesteron có sẵn ở  da người, dưới tác động của tia cực tím của ánh sáng mặt trời tạo thành vitanmin D3 (cholecanxiferon). Người nghiện sợ ánh sáng trời, ấn nấp ở nơi tối tăm nên phản ứng với vitamin A không xảy ra nên cơ thể thiếu hụt vitamin D nghiêm trọng.

Vitamin D có ý nghĩa quan trọng với người nghiện Ma túy “Đá” vì nó chống liệt chi tăng hấp thu Canxiphotpho theo cơ chế tác động lên tế bào niêm mạc ruột tạo nên protein có gắn canxi. Các protein này  làm cho Ca và Magie (Mg) hấp thu dễ dàng và ảnh hưởng đến hấp thụ photpho (P). Vitamin D cùng với hocmon cận tuyến giáp trạng và caxitonin duy trì sự thẩm thấu Ca, P làm tăng vận chuyển Ca, P từ huyết tương vào xương và được tích lũy ở đó.

Sự thiếu hụt vitamin D làm cho người nghiện bị co giật, giảm lượng hồng cầu  huyết sắc tố làm tăng hoạt tính của men photphataza dẫn đến giàm lượng xitrat trong huyết thanh.

Tuy nhiên việc bổ sung vitamin D cần đúng liều lượng nếu đưa vào nhiều quá có thể dẫn tới ngộ độc vitamin A làm giảm khối lượng gan và các khối xương trụ, vôi hóa động mạch chủ. Đối với người cai nghiện nên bổ sung vitamin D khoảng 200 UI/ngày.

- Vitamin B1 (thiamin) Vitamin B1 có chức năng duy trì hoạt động thần kinh bình thường, nó rất cần thiết cho quá trình trao đổi chất của Hydratcacbon và protein. Vitamin B1 làm tăng tính thèm ăn tăng khả năng tiêu hóa hập thụ thức ăn ở đường ruột. Cơ thể người nghiện chất ma túy luôn thiếu vitamin B1 nên không thèm ăn, cơ chân yếu, tim to, loạn nhịp tim và hô hấp. B1 có sẵn trong thức ăn nên chỉ bổ xung thêm khoảng 0,10 mg/ngày.

- Vitamin B2 (Riboflavin) B2 có vai trò bậc nhất trong oxy hóa vật chất ở tế bào, thực hiện oxy hóa hoàn nguyên và nhiều phản ứng oxy hóa khác, duy trì hoạt động bình thường ở tuyến sinh dục. Cơ thể người nghiện ma túy thiếu B2 nghiêm trọng nên giảm tính thèm ăn, dễ mắc bệnh ngoài da và mắt, dễ nôn mửa, tế bào gan, tế bào thận mất màu, gan tích mỡ, làm thoái hóa buồng trứng ở nữ giới, thoái hóa vỏ myelin ở dây thần kinh hông và tay. Vitamin B2 có sẵn trong thức ăn. Trong giai đoạn cai nghiện người bệnh còn kém ăn cần bổ xung thêm 3mg/ ngày.

- Vitamin B3 (axit pantotenic). Chức năng quan trọng của B3 là giúp cho sự trao đổi nguyên tố đồng (Cu), đặc biệt là trong chuyển hóa axit axitacetic trong tổ hợp chất béo và axetylcholin, trong dẫn truyền thần kinh và chỗng bại liệt. Cơ thể người nghiện ma túy thiếu hụt B3 giảm sức đề kháng đi lại không vững, bị tiêu chảy, giám tăng trọng, sinh bệnh viêm da, cơ chân yếu. B3 có sẵn trong thức ăn, nếu ăn tốt thì không cần bổ xung, gia đoạn ăn ít cần bổ xung 5mg/ngày. Nguồn cung cấp B3là sữa bột, nấm men, ngũ cốc.

 -  Vitamin B6 (Pyridoxine, adermin): Vitamin B6 đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của Hệ thần kinh trung ương. Nó tham gia quá trình khử Cacbon của các dẫn xuất amino axit để tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh và ức chế thần kinh trong quá trình tiếp thu những axit béo chưa no và chuyển hóa protein thành mỡ khi cơ thể thừa protein. Cơ thể người nghiện ma túy thiếu hụt B6 làm phát bệnh co dật, mất điều vận, hôn mê, chán ăn, sút cân, thiếu máu, tích mỡ ở gan và các chứng bệnh ngoài da. Cần bổ xung B6 cho người bệnh liên túc trong suốt quá trình cai nghiện. Liều dùng hàng ngày 5mg. Nguồn cung cấp vitamin B6: bột ngũ cốc, bột cá, cà rốt, sữa khô.

3. Khoáng đa lượng

Khoáng đa lượng là những nguyên tố khoáng chất dinh dưỡng. Cơ thể động vật cần 6 nguyên tố khoáng đa lượng là: Canxi (Ca), Photpho (P), Natri (Na), Clo (Cl). Magie (Mg), Kali(K), Lưu huỳnh (S). Cơ thể người nghiện luôn thiếu hụt nguyên tố caxi và phốt pho. Hai nguyên tố này đi đôi với nhau vì nếu Ca nhiều hơn P làm giảm hấp thụ P dẫn tới vôi hóa xương. Canxi và phốt pho giữ vai trò chính trong việc phát triển bộ xương và thực hiện nhiều chức năng sinh lý khác trong cơ thể sống. Phốt pho tham gia vào các thành phần hợp chất xúc tác sinh học trong chuyển hóa năng lượng (ATP thành ADP + P), trong dẫn truyền thần kinh. Canxi cần cho sự đông máu, dẫn truyền thần kinh, cơ cổ và hoạt động của các enzym.

 Bổ xung thiếu hụt Canxi và phốt pho bằng cách tăng khẩu phần cá trong xuất ăn hàng ngày.

 4. Khoáng vi lượng thuộc loại “vi dinh dưỡng” giống như vitamin chỉ cần một lượng rất nhỏ tính bằng mg. Động vật nói chung cần có đủ 8 loại nguyên tố vi lượng là: Sắt (Fe), Đồng (Cu), Coban (Co), Măng gan (Mn), Selen (Se), Kẽm (Zn), Iot (I) và Crom (Cr). Những nguyên tố vi lượng này có sẵn trong thức ăn không cần bổ xung thêm. Đối với cơ thể người nghiện ma túy thì Hệ thống tiêu hóa đã bị chất ma túy lũng đoạn ngay từ khâu đầu tiên là cảm giác thèm ăn gây Hội chứng suy dinh dưỡng. Ở những người suy dinh dưỡng nặng người ta tìm thấy nồng độ Kẽm (Zn) ở dưới trị số tối thiểu. Trị số tối thiếu nồng độ Kẽm (Zn) trong huyết tương ở nam giới là 0,9 g/l, nữ giới là 0,85 g/l. Vì thế đối với người nghiện ma túy phải cung cấp đủ 14mg kẽm trong khẩu phần ăn hàng ngày. Nguồn cung cấp vi chất dinh dưỡng Zn là bột cá.

Ngoài vi chất dinh dưỡng Zn cơ thể người nghiện cẫn được bổ xung vi chất ding dưỡng Sắt (Fe).

Sắt là thành phần của Hemoglobin trong hồng cầu, có trong myoglobin trong bắp thịt, trong transfrin của huyết thanh, trong Hemosiderin của gan. Fe tham gia vào các sắc tố hô hấp tế bào. Fe là nguyên liệu tạo nên cơ và da. Thiếu hụt Fe gây bệnh thiếu máu, khó thở, co giật hoành cách mô, đánh trống ngực, gan to tích mỡ, máu loãng, lá lách to, mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm.

Nguồn cung cấp chất vi dinh dưỡng sắt an toàn nhất đối với người là cho ăn tiết lợn, tiết gà đã luộc chín. Mỗi ngày ăn khoảng 100 gam tiết gia súc gia cầm luộc chín.

5. Năng lượng dinh dưỡng sinh học.

Thức ăn  vào cơ thể sống  trải qua quá trình trao đổi năng lượng hóa học và được dự trữ dưới dạng phân tử. Khi cơ thể cần hoạt động thì năng lượng phân tử qua quá trình trao đổi chất và phản ứng hóa học biến thành nhiệt lượng, nhiệt lượng biến thành điện năng và điện năng biến thành công năng. Mọi hoạt động của cơ thể là nhờ cơ năng sinh học này. Công năng sinh học được dự trữ dưới dạng năng lượng phân tử của các vật chất hữu cơ thức ăn, như Hydratcacbon, tinh bột, đường, mỡ, protein hoặc dưới dạng các phân tử ATP, đường, lipit, và protein cơ thể. Năng lượng dinh dưỡng là sự biến đổi năng lượng thực có trong thành phần thức ăn thành dạng năng lượng phù hợp với quá trình sống khác nhau của cơ thể trong giới hạn của nhiệt năng.

Đơn vị nhỏ nhất để đo nhiệt năng dinh dưỡng là calo (viết tắt là Cal) được xác định bằng nhiệt lượng đun nóng 1ml (1cc) nước nguyên chất từ 14,50C lên 10C. Để giảm bớt chữ số quốc tế quy định dùng bội số của Calo là  làm đơn vị đo nhiệt năng sinh học như:

1 kilocalo = 1000 Calo

1 Megacalo = 1000 kilocalo.

Trải qua rất nhiều thực nghiệm rất nhiều lần người ta đã tính được năng lượng cần thiết để duy trì sự sống của một người trưởng thành cần 2200 Kcalo/ ngày.

Đối với cơ thể người cai nghiện cần 2600 Kcalo/ ngày nhưng phải bố trí qua các chủng loại thức ăn sau đây:

1. Tinh bột ngũ cốc: 600g = 520 Kcalo

2. Thịt, Cá 200g = 200 Kcalo

3. Trứng vịt 2 quả 50g = 360 Kcalo

4. Dầu thức vật  80 gam = 700 Kcalo

5. Sữa 300g = 210 Kcalo

6. Rau xanh 500g = 100 Kcalo

7. Quả chín còn tươi: 200g = 100 Kcalo

8. Đạm (truyền tĩnh mạch) 60 g = 210 Kcalo

Cộng: 2600 Kcalo.

Cần phải nói rõ là thực đơn trên chỉ dùng chỉ tiêu Calo để thể hiện nhưng phải bố trí đúng chủng loại thức ăn là vì đã cân đối đủ các chỉ tiêu cần thiết như: Protein có hàm lượng Axit amin được cân đối, Vitamin đã được cân đối, Chất khoáng đa lượng, vi lượng, nhiệt lượng. Đây là thực đơn mẫu có thể thay thế bằng các loại thức ăn khác nhưng phải bảo đảm có đủ chất như loại thức ăn ở bảng mẫu.

Cung cấp dinh dưỡng cho người cai nghiện quan trọng như cung cấp thuốc chữa bệnh, vì thế trong quá trình cai nghiện phải coi việc cung cấp đủ chất dinh dưỡng như đã trình bày trong bài viết như là liệu pháp chữa bệnh ./.

Việt Y Cổ Truyền - Tinh Hoa Thuốc Việt