Những bệnh khó chữa ở cơ thể người Đàn Ông, Con Trai

Giải thích những thuật ngữ
- Đàn ông là danh xưng của người Nam giới đã trưởng thành có tuổi đời từ ba mươi tuổi trở lên
- Con Trai là danh xưng của người Nam giới có tuổi từ 6 tuổi đến 30 tuổi.
- Người  Nam giới dưới 6 tuổi gọi là Trẻ Con.
- Bệnh mắc phải và bệnh bẩm sinh: Theo quan niệm Y học thuần Việt: những chứng bệnh mà con người mắc phải  hoặc do di truyền (mắc phải ở thế hệ trước) đều có thể chữa khỏi. Những bệnh thuộc về bẩm sinh, chưa chữa được nên gọi là Tật nguyền.

Danh sách những bệnh “nhận chữa”

1. Di chứng của bệnh trúng phong (đột quỵ vì tim mạch):
Bệnh thường thấy có những biểu hiện sau:

Hôn Mê: thường thấy ngay từ đầu. Nếu nhẹ thì tinh thần hoảng hốt, mê muội, thích khạc nhổ hoặc ngủ mê man. Nếu nặng thì hôn mê, bất tỉnh.  Có bệnh nhân lúc đầu còn tỉnh táo, vài ngày sau mới hôn mê. Đa số bệnh nhân khi hôn mê kèm nói sảng, vật vã không yên.

Liệt Nửa Người: Nhẹ thì cảm thấy tay chân tê, mất cảm giác, tay chân không có sức. Nặng thì hoàn toàn liệt. Thường chỉ liệt một bên và đối xứng với bên não bị tổn thương. Đa số liệt dạng mềm, chỉ có một số ít liệt dạng cứng, co rút. Thường lúc đầu bị liệt dạng mềm rũ, tay chân không có sức, nhưng một thời gian sau, lại bị co cứng, các ngón tay, chân không co duỗi được.

Miệng Méo, Lưỡi Lệch: thường gặp ở giai đoạn đầu kèm chảy nước miếng, ăn uống thường bị rớt ra ngoài, khó nuốt.

Nói Khó Hoặc Không Nói Được: Nhẹ thì nói khó, nói ngọng, người bệnh cảm thấy lưỡi của mình như bị cứng. Nếu nặng, gọi là trúng phong bất ngữ, không nói được. Thường một thời gian sau chứng khó nói sẽ bình phục dần.

Tây y gọi chứng bệnh này là đột quỵ, cho rằng nguồn gốc phát bệnh là do rối nhiễu hoặc tắc nghẽn hệ thống tuần hoàn, như: nhồi máu cơ tim, xuất huyết não, tắc nghẽn mạch vành tim, tắc nghẽn động mạch phổi, tắc nghẽn động  mạch tay chân gây hoại tử, v.v…

Những người bị đột quỵ thường được điều trị ở các bệnh viện lớn. Bệnh nhân chỉ được cứu chữa ở mức tỉnh lại còn di chứng của nó Tây y chưa có thuốc chữa. Việt y có thuốc chữa khỏi những di chứng này.

2. Bệnh lệch chuẩn áp lực động mạch (huyết áp cao, huyết áp thấp).

3. Bệnh đái tháo Đường.

4. Bệnh vẩy nến, Tổ đỉa.


5. Bệnh Ợ hơi dai dẳng.

6. Hen

7.  Suyễn

8. Liệt dương

9. Cường dương cấp tính (thường mắc tội hiếp dâm trẻ con).

10. Bệnh lao “nhờn thuốc Tây dược”.

11. Uất hận thổ ra máu.

12. Thổ ra máu Trắng.

13. Các chứng bệnh tâm thần.

  • Đàm tích làm mê tâm khiếu phát bệnh điên cuồng cấp tính.
  • Mơ thấy ma quỷ sinh hoảng loạn.
  • Bị cưỡng chí phát điên.
  • Phát điên vì thất bại trong thi cử, khinh doanh, ái tình…
  • Ham học quá độ (loạn chữ)
  • Tâm thần bất định.

- Trầm cảm.

- Hoảng hốt, không ngủ được.

-  Sợ sệt vô cớ, quên ăn, không ngủ.

14. Toàn thân tê dại đau nhức

15. Lưng đau không thể cúi xuống

16. Lưng dau không thể đứng thẳng

17. Lưng đùi, gân , xương đều đau

18. Đau cột sống.

19. Đau màng tim (tâm bào)

20.  Đau hòn Dái

21. Ra mồ hôi tay.

22. Bệnh nuy: Gân thịt co rúm, không ngồi dậy rời khỏi giường nằm.

23. Bại liệt hai chân.

24. Bệnh phạm phòng: Phạm phòng là bệnh do đàn ông và đàn bà vừa mới khỏi một chứng bệnh nào đó, cơ thể chưa hồi phục hoàn toàn đã giao cấu với nhau mà sinh ra bệnh. Đàn ông bị phàm phòng phải đàn bà gọi là chứng “Âm lịch”. Đàn bà bị phạm phòng phải đàn ông gọi là chứng “Dương lịch”.Bệnh phạm phòng có 13 trường hợp mắc phải:

  • Mới khỏi bệnh thương hàn đã giao cấu sinh bệnh tay chân co quắp, bụng trướng nóng đầu không cất lên được. Bệnh này để quá 4 ngày mới chữa thì khó khỏi.
  • Bị thương hàn chưa thật khỏi đã giao cấu sinh đau bụng, sưng hòn dái.
  • Phạm phòng đau bụng dưới, teo hòn dáitay chân giá lạnh, ra mồ lạnh (tóat Dương) không chữa trị kịp thời có thể tử vong.
  • Phạm phòng, phát bệnh cấm khẩu.
  • Phạm phòng người luôn mệt nhọc, đau tức hòn dái, sưng đùi vế.
  • Phạm phòng sinh sưng hòn dái, đau đầu mặt, mình mảy tay chân nặng nề, nóng ra ở bụng dưới, co quắp sắp chết.
  • Giao cấu phạm âm độc (âm hộ người đàn bà dư hooc  môn) sinh đau bụng gần chết
  • Phạm phòng đã lâu sinh câm, khó thở, mặt, mắt khô vàng, ăn uống không được.
  • Đàn bà kinh nguyện chưa dứt đã vội giao cấu, ác khí truyền vào bụng, thân thể gân cốt đau như dùi đâm.

Phạm phòng là bệnh trường diễn nhưng cũng có thể là cấp diễn, tùy từng trường hợp và thể trạng của mọi người. Người bệnh phải được thăm khám trước khi cho thuốc.

25. Bệnh đau họng: Tuệ Tĩnh nói: “ Họng là đường ra vào của hơi thở, cửa đi xuống của đồ ăn. Nó là then máy cho toàn thân, làm cửa ngõ cho vào các tạng, nếu nó bế tắc thì sự sống chết chỉ trong nháy mắt. Cho nên nội kinh chia làm 8 chứng nhưng căn bản ddeeeuf do đờm hóa sinh ra. Hễ khí nhiệt thì đờm kết, đờm kết thì sưng, sưng lắm thì đau tê, đau tê lắm không thông hành được thì chết. Phép chữa bệnh nên dò xét tận gốc mà lựa phưng, chớ để chậm trễ”.

  • Đau họng cấp tính sắp chết.  Thuốc cấp cứu: Hàn the một cục bằng hạt đỗ đen, ngậm vào 1 giờ thì thuyên giảm.  
  • Họng  bị tắc nghẽn, ngắc ngoải chờ chết. Thuốc cấp cứu: củ tỏi, cắt bỏ hai đầu nhét vào lỗ mũi, máu đắc trong họng chảy ra là sống.
  • Họng bị tắc không thể đổ thuốc vào được. Thuốc cấp cứu: Bột quả bồ kết thổi vào mũi đến chày nước mũi thì lấy vỏ cây Mận chỗ gần gốc mài với nước phết vào ngoài cổ một lúc sau họng sẽ thông.

Bệnh ở họng có nhiều chứng mà người đàn ông thường mắc phải vì hạng người này hay dùng thức ăn đồ uống Cay, đắng , nồng nàn. Bệnh thường phát thể cấp diễn cần được thăm khám rồi mời cho thuốc. Riêng về bệnh tự nhiên mất tiếng có tới 4 nguyên nhân khác nhau. Bệnh phát thể trường diễn, cần thầy chữa thăm khám để định phương cứu chữa.

26. Bệnh Són Đái: Són đái là ngày đêm đái luôn không chừng độ. Bệnh này do tâm thận hư dương khí suy lạnh, bàng quang không vận chuyển bình thường mà sinh ra. Phép chữa phải bổ mạnh thanh tâm tiết dục bệnh sẽ yên. Bệnh có 11 chứng, chỉ kể vài chứng điển hình:

  • Đàn ông lớn tuổi, vài đái không nín được
  • Đái tháo nhạt. (đái quá nhiều)
  • Đi đái vặt hàng trăm lần trong một ngày đêm.

Còn nữa …

_Việt Y Cổ Truyền_

 " Nhận chữa các bệnh nan y, mãn tính bằng thuốc cổ truyền thuần việt "