Tuổi thọ của con người không ngừng được nâng cao, số người sống đến 100 tuổi ngày càng nhiều.

Chứng kiến cảnh sống của những người có tuổi thọ từ 90 tuổi trở lên lại thấy có những biểu hiện không làm người thân của họ vui mừng và thường phải dấu đi nhiều phiền muộn. Vui sao được khi thấy người mà cả nhà, cả họ yêu kính: cơ thể teo tóp; sắc diện héo tàn. Số đông những người được coi là “đại thọ” không tự chủ được trong sinh hoạt bình thường và luôn cần có người khác hỗ trợ. Nhìn vào những thực trạng đó người ta thường tự đặt ra câu hỏi: sống lâu mà thảm hại như vậy thì sống lâu để làm gì?

Với những tiến bộ mới về y học, người ta có thể cho những người thọ lâu uống thuốc để nâng cao thể lực, nhưng vẫn không thể xóa đi được dấu tích già nua tàn héo biểu hiện qua sắc diện. Trước thực trạng này có hai luồng ý kiến trái ngược nhau:

Ý kiến tiêu cực: Nói rằng không thể cưỡng lại được sức tàn phá của thời gian đối với cơ thể sống, rằng: Sinh - Lão - Bệnh - Tử là quy luật vĩnh hằng của Tạo Hóa, phải chấp nhận để bình thản đi về cõi chết thôi!

Ý kiến tích cực: nói ngược lại, cho rằng cơ thể con người là sản phẩm tinh túy nhất của Vũ Trụ nên nó trường tồn cùng Vũ Trụ. Với trình độ hiểu biết hiện nay con người đã thực hiện được sự bất tử theo Loài thông qua di truyền để duy trì nòi giống; đây mới chỉ là bước đệm là nền tảng để Con người tiến tới đạt sự bất tử cá thể. Đi theo chiều hướng này, các thành tựu tiến bộ mới nhất của các ngành nghiên cứu khoa học, như: Sinh học; Hóa sinh học; Vật lý sinh học; Sinh y học… đã tìm thấy những gợi ý cho rằng: Cơ thể Con người vẫn đang trong quá trình phát triển đến cái đích tối ưu của nó. Cơ thể con người trong hiện tại mới chỉ dừng ở “sơ đồ phác thảo“ của Tạo Hóa. Bằng chứng là gần đây các nhà khoa học Mĩ đã ghi nhận được sự phát triển của Não Người đang theo xu hướng giảm về dung tích và nặng hơn về trọng lượng v.v...

Từ những chỉ báo này đã tạo ra niềm hứng khởi cho các nhà nghiên cứu về sự lão hóa và chống lão hóa ở cơ thể Con Người có được nhiều thành tựu mới. Thành tựu mới nhất cũng được người Mĩ công bố gây chấn động xã hội, đó là việc tìm ra Enzym chống lại sự mòn dần đoạn cuối của nhiễm sắc thể (Telomeres), bảo đảm cho sự “bất tử của các tế bào có chức năng phân chia. Tuy nhiên, con đường đi đến  sự bất tử còn rất xa vời, trong khi đó nhu cầu nâng cao chất lượng  sống ở những người cao tuổi lại rất thực tế và cấp thiết. Để đáp ứng cho nhu cầu rất chính đáng này, Y học hiện đại đã đưa ra những giải pháp tình thế, như dùng thuốc chống lão hóa. Những người nôn nóng muốn được luôn trẻ đã chọn liệu pháp “phẫu thuật thẩm mĩ”, như căng da mặt, cấy ghép tế bào. Các liệu pháp này vừa rất đắt tiền và còn rất có hại cho sức khỏe, biết bao bi hài kịch đã diễn ra và còn tiếp tục diễn ra ở lĩnh vực“ làm đẹp” bằng các giải pháp “khoa học nửa vời“ này.

Để góp một phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp chống lão hóa nhanh ở cơ thể con người, xin được giới thiệu với các bạn bài thuốc Trường Xuân. Đây là bài thuốc tôi chế tạo để dùng riêng trong nhiều năm qua thấy có hiệu quả tốt nên mới mạnh dạn giới thiệu để mọi người tham khảo. Khi ứng dụng vào từng người cụ thể cần có ý kiến thẩm định của thầy thuốc. Trước khi giới thiệu bài thuốc xin nói thêm đôi lời.

Việt y cổ truyền cho rằng: sống lâu là cần nhưng chưa đủ. Sống lâu trong tình trạng khỏe mạnh về thể chất, xung mãn về tinh thần mới tạo cho ta một cuộc sống: đáng sống. Sống được như thế gọi là sổng đủ.

Bí quyết trẻ lâu

Sự sống ở cơ thể chúng ta là cuộc đấu tranh với dòng chảy của thời gian. Chiến lợi phẩm mà ta thu được trong cuộc đấu tranh này là sự tích lũy của trí tuệ: thời gian sống càng dài thì trí tuệ ta càng lớn. Cái giá mà chúng ta phải trả để thu được chiến lợi phẩm trí tuệ cũng rất đắt, đó là mất đi sự cường tráng của cơ thể, nét xinh tươi của dung nhan ở tuổi thanh niên. Nguồn gốc của sự mất mát này Sinh học gọi tên là lão hóa.

Chống lại sự lão hóa! đó khát vọng sống từ ngàn đời nay của con người. Với trình độ hiểu biết hiện nay, người ta chưa thể chống lại sự lão hóa, nhưng có thể làm chậm quá trình lão hóa, tiến bộ đã thấy rõ: tuổi thọ của con người ngày càng được nâng cao, sống đến 100 tuổi không còn là một sự lạ. Đã có rất nhiều liệu pháp: vật lí trị liệu; hóa trị liệu (uống thuốc) để duy trì thể lực, nhưng không phải bất kì người bình dân nào cũng có thể sử dụng được các liệu pháp đó vì rất đắt tiền và mất rất nhiều thời gian. Loại vật lí trị liệu đang được ưa dùng là luyện Thiền (tạm ngừng tư duy trong thời gian luyện tập) buộc người theo liệu pháp này phải chi phí khoảng 2 giờ hàng ngày để ngồi Thiền, không phải ai cũng có quỹ thời gian dài như thế để dưỡng sinh.

Các bài thuốc bổ đang được phổ biến trên thị trường thương mại thường có những vị thuốc rất đắt tiền, như: Nhân sâm, Linh chi hoang dã; Lộc nhung hươu; Tam thất; cao Hổ cốt, sừng Tê giác…chỉ những người giàu có mới với tới được. Tuy nhiên, các vị thuốc đắt tiền này chưa hẳn đã có tác dụng làm tăng tuổi thọ. Nhân sâm; cao Hổ cốt; sừng Tê giác đã được Vua chúa các quốc gia Á đông dùng từ ngàn đời nay nhưng có vị Vua chúa nào sống tới 100 tuổi được đâu. Đối với ông Mao Trạch Đông thì thiếu gì thuốc quý, vậy mà ông cũng không thể sống quá tuổi 84. Không phải cứ có thuốc quý hiếm là tăng tuổi thọ được đâu.

Sự sống sinh học ở cơ thể người là tiến trình liên tục trao đổi chất của 80.000 tỉ tế bào các loại. Mỗi chủng loại tế bào có cấu trúc hình thể riêng để đảm trách các chức phận khác nhau của sự sống, nhưng chúng đều phải hòa chung nhịp điệu trong quá trình chuyển hóa. Chỉ cần một tế bào lạc điệu, “giở quẻ” không tuân theo nhịp điệu chung lập tức gây sự cố. May thay, Tạo Hóa đã “cài đặt” trong cơ thể sống của chúng ta một hệ thống tự động điều chỉnh những biểu hiện lạc điệu của các tế bào. Hệ thống đó thường được gọi là cơ chế tự điều chỉnh của cơ thể. Mấu chốt của sự lão hóa theo nghiên cứu của tôi là ở chính hệ thống này.

“Bí ẩn của cơ chế phối hợp các chức năng giờ đây đã được làm rõ là các tế bào đích có các thụ thể chuyên biệt nhận biết “tin” chuyển vào trong tế bào để giải mã tin qua tin nhận được lập tức có sự thay đổi cách hoạt động của nó cho phù hợp với tin mới nhận được.

Các thụ thể cũng không đơn thuần thụ động hiền lành ngoan ngoãn cần cù làm công việc của người đưa tin mà nó cũng có hiện tượng “có ý kiến” độc lập với “tin” nhận được và các biểu hiện độc lập này  này cũng tham gia vào sự điều hoà chung của cơ thể. Nguồn gốc của sự lạc điệu đó là do vì một nguyên nhân nào đó làm cho sự kết đôi giữa thụ thể phần trong tế bào với một protein trong nội bào không thuận gây rối loạn việc sao chép và dịch tin. Để bổ khuyết cho hiện tượng này là cơ chế hoạt động của các chất cơ bản ngoài tế bào tức là 4 đại phân tử: Collagen; Elastin; Proteoglycan và Glycoprotein cấu trúc. Chức phận cùng cơ chế hoạt động của 4 Đại phân tử này đã nói ở phần trên, ở đây chỉ nói thêm về chức phận phối hợp chức năng của 4 đại phân tử này trong hoạt động của tế bào.

Tuy là sản phẩm trực tiếp của tế bào, nhưng các chất cơ bản ngoài tế bào lại tác động trực tiếp vào tế bào qua trung gian các thụ thể màng và truyền tin vào nội bào. Cơ chế này đã hạn chế được nguồn tin sai lệch do các thụ thể gặp sự cố đột ngột. Sự phối hợp chức năng giữa các thụ thể cùng chất cơ bản ngoài thành tế bào đã hình thành nên “một mạng tin” giữa nội bào và thành ngoài tế bào; đây chính là nền tảng của cái gọi là “cơ chế tự điều chỉnh” của cơ thể sống.

Khi một tế bào nào đó bị tê liệt cơ chế tự điều chỉnh ngừng phản ứng thì lập tức các tế bào trong mô của nó cứu giúp đảm trách. Nếu tế bào đó không hồi phục mà đi vào xu thế thoái giáng lập tực bị loại bỏ. Nhiều tế bào mắc lỗi bị loại bỏ, thì đó chính là sự lão hóa của toàn cơ thể. Nhưng các tế bào mắc lỗi trong chuyển hóa không đi vào xu hướng thoái giáng mà  lại đột biến phát triển rất nhanh thì đó chính là biểu hiện ban đầu của ung thư. Ngăn chặn lão hóa và chữa bệnh ung thư theo nghiên cứu của tôi phải bắt đầu từ sự kiểm chứng cơ chế điều chỉnh tự nhiên của cơ thể. Đây là câu chuyện rất dài và khá phức tạp không thể diễn giải đơn giản, chỉ nói sơ qua để các bạn có cảm nhận công việc chống lão hóa là một “Đại Sự” của y học hiện đại.

Diễn trình lão hóa ở cơ thể người tuân theo một nhịp điệu chung, nhưng mức độ lão hóa ở các cơ quan lại rất khác nhau: so với sự giảm sút chức năng sinh lí của cơ cơ quan khác thì sự lão hóa của Não và Hệ thần kinh trung ương giảm chậm nhất và muộn nhất. Đáng chú ý với kết quả nghiên cứu được công bố đáng tin cậy thì sự sa sút trí tuệ rất hiếm gặp ở người lao động trí óc, nói đúng hơn là vẫn thấy có nhưng ít hơn tới 12 lần so với người lao động chân tay. Đây là điều may nhất cho sự sống của con người. mọi nghiên cứu về chống lão hóa cần coi đây là cơ sở nền tảng để từ đó hoạch định chiến lược kéo dài tuổi thọ. Một cơ quan duy nhất có tốc độ lão hóa nhanh chung cho tất cả mọi người đó là Da.

Da không chỉ là cơ quan bao bọc cơ thể đối với môi trường mà còn là trung gian giữa môi trường với nội môi của cơ thể. Sự lão hóa của Da là do chịu tác động đồng thời của các yếu tố ngoại lai và nội môi. Da thuộc vào loại cơ quan phức tập nhất và được coi như biểu hiện sức khỏe của toàn cơ thể. Chúng ta tìm hiểu kĩ hơn một chút về Da qua trích dẫn dưới đây:

“Bách khoa toàn thư mở Wikipedia”

Cấu tạo da người

Da là cơ quan của hệ bài tiết, có nhiệm vụ bao bọc cơ thể, che chở cơ thể khỏi sự tác động, sự ảnh hưởng không có lợi của môi trường bên ngoài đối với cơ thể. Ngoài ra, chức năng chính của da còn để điều hòa, cảm nhận nhiệt độ, tổng hợp vitamin B và D. Da được coi là một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể. Da người có cấu tạo gồm ba lớp: Lớp biểu bì, lớp bì và lớp mỡ dưới da.

Lớp biểu bì

Tầng sừng: Tầng sừng gồm có các tế bào đã chết, sếp xít nhau, rất dễ bong ra

Tầng tế bào sống gồm các tế bào có khả năng phân chia tạo thành tế bào mới, chứa các hạt sắc tố tạo nên màu da, một số tế bào sống phân hóa thành tế bào sinh lông và tế bào sinh móng

Lớp bì: Lớp bì được cấu tạo từ các sợi mô liên kết bền chặt, gồm các thụ quan, tuyền nhờn, tuyền mồ hôi, lông và bao lông, cơ co chân lông, mạch máu

Tuyến nhờn: Nhiệm vụ của tuyến nhờn là tiết chất nhờn, tạo thành một lớp chất nhờn bao phủ bề mặt da, giúp da mềm mịn và không bị thầm nước

Tuyến mồ hôi: Nhiệm vụ là tiết mồ hôi (là các chất thải bã được lọc từ máu ra), giúp điều hòa thân nhiệt cơ thể, làm nhiệt độ cơ thể giảm xuống nhiệt độ bình thường khi quá nóng Có 2 loại tuyến mồ hôi là tuyến mồ hôi toàn vẹn và tuyến mồ hôi bán hủy.

Lông và các phụ quan liên quan

Lông gồm có: chân lông, bao lông, cơ co chân lông,cơ co chân lông có nhiệm vụ co lại mỗi khi trời lạnh, làm cho lông dựng đứng lên, che khít lỗ chân lông, không cho hơi ấm trong cơ thể bay ra không khí, như thế sẽ giữ ấm đựoc cơ thể

Lớp mỡ dưới da:

  • Mô mỡ
  • Bảo vệ da khỏi những tác động cơ học, cách nhiệt.
  • Dây thần kinh
  • Giúp da nhận biết những kích thích từ môi trường.
  • Mạch máu

Người ta đã tính được rằng: hàng năm Da mất đi khoảng 5% chiều dày lúc ban đầu. Một người sống 100 tuổi mất đi khoảng 60% chất da của mình. Da bị mất đi không đồng đều các chất cơ bản ngoài da làm cho nó mất tính mềm mại, sự uyển chuyển trong đàn hồi, giảm độ cương máu gây ra hiện tượng các nếp nhăn. Ngăn chặn làm chậm lại quá trình hóa già của da là khâu đột phá mà Việt y cổ truyền lựa chọn để hình thành bài thuốc Trường xuân. Bởi vì theo kết quả nghiên cứu của tôi: Tất cả các cơ quan nội tạng trong cơ thể người đều có mối liên hệ hai chiều với da: Đái tháo đường thường gây nhiều biến đổi Da. Người sa sút trí tuệ thường khiến da của của người đó giảm thủy phần của Da, v.v… Một làn da đẹp không chỉ thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ mà là hơn thế nó biểu hiện sức thanh xuân của một cơ thể sống. Như vậy là để có làn da đẹp không thể dùng mĩ phẩm để  “lừa mị”mà phải là tổng thể liệu pháp giúp cho cơ thể luôn trẻ từ bên trong ra đến bề ngoài. Đạt được yêu cầu đó Bài thuốc mới xứng với tên gọi của nó là TRƯỜNG XUÂN.

Bài thuốc Trường Xuân
Phương pháp sử dụng Thuốc trường Xuân

     Một điều khá lí thú là trong khi y học hiện đại đã hiểu rõ quá trình lão hóa ở cơ thể người thì lại chưa tìm ra được thuốc chữa đặc hiệu làm chậm quá trình lão hóa thì y học cổ truyền thuần Việt lại đã có thuốc làm chậm quá trình lão hóa, mặc dù chưa có cái gọi là “lí luận” về sự lão hóa theo hệ quy chiếu của Tây y. Xã hội Việt cổ đại đã từng có rất nhiều người sống lâu tới hơn 200 tuổi. Do không đủ thực chứng để khảng định nên đều bị nhận xét: "đó là những nhân vật huyền thoại". Bài thuốc Trường Xuân cổ truyền tôi giới thiệu với các bạn dưới đây thì trái lại đã được thực tế kiểm nghiệm vì nó được chính những người sống trên 100 tuổi truyền dạy cho tôi. Bài thuốc chỉ có 4 vị và rất dễ kiếm tìm:

  • Búp non của cành dâu tằm ăn
  • Hạt Vừng Đen (Mè Đen)
  • Mằn đăng ón (phát âm theo tiếng Thổ Cao Bằng), người Hoa gọi là Hà Thủ Ô.
  • Đậu Đen
  • Kì công chế biến 4 vị thuốc bình dân này tạo được sự kì diệu của Bài thuốc Trường Xuân.

Kỹ thuật chế biến: Số lượng các vị bằng nhau, nhiều ít tùy theo nhu cầu.

Chế biến

+ Hợp chất thứ nhất bao gồm Búp Dâu tằm và Mè Đen: Mè Đen tán nhỏ trộn lẫn với Búp Dâu đã vò nát ủ yếm khí với men làm rượu nếp 3 ngày đêm, sấy khô ở nhiệt độ không quá 50oC, tán nhỏ thành bột mịn.

+ Hợp chất thứ hai bao gồm củ Mằn đăng ón còn tươi, ngâm nước đái Khỉ 3 ngày 3 đêm. Vị thuốc này chế biến rất cầu kì. Cụ già người Thổ Cao bằng truyền dạy cho tôi là phải lấy củ Mằn đăng ón ở trên núi nơi Khỉ ở, vì nước đái Khỉ tưới cho củ này mới hiệu nghiệm. Đây là việc không thể làm được. Tôi nghĩ, lấy nước đái Khỉ ngâm tẩm là được, nên khi còn ở Sài Gòn tôi mua củ Hà Thủ Ô đỏ ở Chợ Lớn và đến Sở thú nhờ giúp đỡ. Khi nghe tôi muốn lấy nước đái Khỉ để làm thuốc mọi người cười ồ, nhưng rồi tìm được người chuyên quét dọn chuồng Khỉ nhờ giúp đỡ. Bác công nhân này chỉ tủm cười và nói: “đi mua 2 lít bia hơi và nửa cân đường về đây”! Tôi dạ thật to và đi mua liền, nghĩ bụng chắc là bác muốn bồi dưỡng đây. Mua về hóa ra là để cho Khỉ uống. Bác tìm được chiếc lồng sắt, bắt 4 chú khỉ đực nhốt lại rồi cheo lên cao 1 mét. Bác hòa đường vào bia đưa cho Khỉ, chúng uống rất khoái chí. Khoảng 30 phút sau, 4 chú Khỉ thi nhau tè, tôi sung sướng lấy chậu hứng lấy. Thế là được nước đái Khỉ tinh khiết giữa đô thành Sài Gòn.

Trường Xuân thang

Củ Hà Thủ Ô đỏ ngâm nước đái Khỉ 3 ngày 3 đêm thì mềm ra như của khoai lang, thái mỏng rồi cho vào chõ đồ với hạt Đậu Đen: giải một lớp mỏng Đậu Đen rồi đặt các lát Hà Thủ Ô vào rồi lại giải lớp đậu. Đồ trong 3 giời lấy ra, bỏ đỗ đi, hong trong bong dâm cho kho khô. Đồ như thế 9 lần để được miếng Hà Thủ Ô rắn đanh như mảnh sành. Sau đó nghiền các mảnh Hà Thủ Ô thật mịn rồi chộn thật đều với hợp chất Búp Dâu – bột Mè Đen. Hỗn hợp này lại được chộn với một loại men gia truyền ủ yếm khí 3 ngày 3 đêm, lấy ra ngào với mật ong rừng làm thành viên to như hạt ngô, sấy khô cho vào lọ dùng dần. Mỗi lầm dùng khoảng 15 gam, uống với nước gừng nóng trước khi đi ngủ.

Uống như thế liên tục trong 6 tháng thì toàn bộ độc tố tích lũy lâu nay trong cơ thể bị tống ra ngoài. Tùy theo thể trạng mỗi người mà độc tố chọn đường thoát ra: thong thường là qua đường tiêu hóa, bị ỉa chảy vài ngày, cũng có thể phát ban nhẹ vài hôm rồi tự lặn. Sau khi thoát hết chất độc, cơ thể hồi phúc, Da bắt đầu hồi sinh nếu dùng thuốc liên tục mỗi ngày một liều thì làn da mỡ màng, dung nhan nhuận sắc, giữa được vẻ ngoài Trường Xuân

     Bài thuốc Trường Xuân (phần thứ hai)
Phương pháp sử dụng Thuốc trường Xuân

Sự kì diệu của bài thuốc Trường Xuân có cơ sở nền tảng là tác dụng Dược lí của các vị thuốc tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất trong cơ thể người sử dụng. Để người dùng yên tâm về độ an toàn của thuốc xin nói sơ qua về kết quả phân tích Hóa - Dược từng vị thuốc này:

1. Lá búp dâu tằm:

Dâu tằm - Thuốc Trường Xuân

Cây Dâu tằm có tên khoa học là Morus alba. Toàn bộ cây Dâu tằm đã được người Việt dùng làm thuốc chữa bệnh từ nhiều đời nay. Ở bài thuốc Trường Xuân chỉ dùng lá Dâu non (búp Dâu). Lá Dâu non tích chứa nhiều chất hóa học quý hiếm, như: Cholin, Adenin, Trigonellin, pentozan, Canxi malat, Canxi cacbonat. Đặc biệt hơn nữa trong lá dâu non có 2 chất Sinh-hóa mang thuộc tính nội tiết chỉ thấy có ở cơ thể động vật côn trùng, đó là chất: (1) Ecdysteron và (2) Inokosteron. Đây là những chất nội tiết giúp cho sự đổi lốt của côn trùng. Nhờ có những chất này mà nhộng trưởng thành có thể “hóa vũ” (biết bay). Khi chế biến lá Dâu làm thuốc phải hết sức cẩn trọng để không bị tiêu biến mất các chất Sinh - Hóa này. Nguyên tắc phải giữ nhiệt không được vượt quá ngưỡng 500C trong quá trình làm khô thuốc phải được thực hiện nghiêm cẩn. Tuyết đối không được phơi thuốc trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời. Hai chất Sinh-Hóa: Ecdysteron và Inokosteron có trong lá dâu như nói ở trên còn nhiều bí ẩn chưa được phân tích sâu sắc. Kinh nghiệm thực tế chữa bệnh bằng lá Dâu Tằm trong dân gian nhiều đời nay cho thấy, vị thuốc này có thể chữa khỏi các chứng bệnh, như: hạ nhiệt trong cơn sốt cao ở 400C ở trẻ nhỏ; làm sáng mắt cho người cao tuổi; nhức đầu mắt đỏ; chữa bệnh nước mắt chảy nhiều; hoa mắt ù tai; chấm dứt hiện tượng nôn ra máu; v.v... Tôi cho rằng hai chất Sinh - Hóa này đóng góp quan trọng làm nên sự kì diệu của Lá Dâu non.

2. Hạt Vừng (mè) Đen.

Vừng đen - Thuốc Trường Xuân
Hạt Vừng đen (Mè đen)

Danh pháp khoa học: Sesa Mun indi cum L. Kết quả phân tích các chất hóa học có trong hạt Vừng Đen cho thấy: 55% dầu; 20% nước; 22% Protein; 5% tro, trong đó có 1,7mg Đồng; 8% những chất không chứa Ni tơ: pentozan, Lexitn, Phytin, Cholin.

Dầu Vừng là dầu thực vật cao cấp chứa 16% axit đặc, trong đó có:7,7% a xit Panmitic, 4,6% axit Stearic,0,4% axit Archidic. Dầu Vừng còn chứa 80% axit lỏng, trong đó có: 48% axit Oleic, 30% axit Linolic, 0,4% axit Lignoxeric. Đáng quan tâm hơn là trong dầu Vừng có 1,7% chất không xa phòng hóa dược, còn có tới 1% Lexitin. Người ta còn thấy trong dầu Vừng có 1% Sensamin (C20H18O6 ); 0,1% chất Sesamol là một Phennol (C7H6O3).

Từ ngàn đời nay, người Việt bình dân gắn bó với hạt Vừng trong đời sống cơ hàn của mình. “Cơn nắm muối Vừng” là thực phẩm vật bất li thân cho những chuyến đi xa tìm kế sinh nhai. Các thầy lang ta đã coi Vừng như một thần dược chữa trị nhiều chứng bệnh ở: Gan, Phổi, Thận và đau Dạ dày. Vừng là vị thuốc chẳng những bồi bổ ngũ tạng mà còn có tác dụng làm đầy Tủy Não, bền Gân cứng Xương, sáng Tai, Mắt. Tuệ Tĩnh cho rằng:, Vừng giúp người cơ nhỡ quên đói, ăn Vừng thường xuyên giúp sống lâu…

3. Hà Thủ Ô đỏ

Hà thủ ô đỏ - Thuốc Trường Xuân
Cây Hà Thủ Ô Đỏ

Nhiều người đã nhìn thấy “củ” Hà Thủ Ô Đỏ nhưng chưa nhìn thất cây của nó. Bức ảnh trên giới thiệu với bạn về hình thể cây Mằn năng ón Đỏ. Người Hoa gọi tên phần rễ phình của cây này là Hà Thủ Ô, dựa theo truyền thuyết dân gian Trung Hoa, nói rằng: có người đàn ông tên là Điền Nhi sức vóc yếu ớt năm 58 tuổi vẫn chưa có con, ham mê tu luyện đạo thuật. Ông ta thường theo các thầy đạo pháp lên núi tu luyện. Một đêm do uống nhiều rượu Điền Nhi bị say nằm liệt ở một triền núi. Khi màn đêm buông xuống, ông ta nhìn thấy hai cây dây leo ở cách xa nhau một sải tay lại bò đến quấn quýt vào nhau, lát sau lại tự bò về chỗ cũ. Người say qua đêm đã tỉnh rượu liền đào rễ của những cây này mang về kể chuyện cho dân làng biết.

Có một người già ở phương xa tới nghe chuyện liền nói rằng: Anh lớn tuổi mà chưa có con, gặp được sự lạ này chắc đây là vị thuốc Tiên, nên sắc ra uống. Điền Nhi nghe theo liền tán rễ cây thành bột rồi hòa rượu uống. Uống được 7 ngày đã thấy hứng tình, uống liên tiếp hơn một tháng sau thấy người khỏe mạnh. Sau một năm uống rễ cây lạ này mọi bệnh tật đều khỏi, tóc bạc trắng đã đen trở lại, sinh được con giai, ông ta liền đổi tên thành Năng Tự, sống lâu thọ đến 160 tuổi (?!). Năng Tự đặt tên con trai là Điền Tú, Điền Tú sinh ra Hà Thủ Ô và cũng được uống bột rễ cây này thọ tới 130 tuổi. Bạn của Hà Thủ Ô là Lý An Kì lấy được vị thuốc này mang về uống cũng sống lâu và là người thuật lại chuyện, rồi đặt tên vị thuốc là Hà Thủ Ô.

Củ Hà Thủ Ô
Củ Hà Thủ Ô

Huyền thoại này thực chất chỉ là cách quảng cáo để bán được nhiều thuốc của người Hoa. Tôi đưa vị thuốc này vào Bài thuốc Trường Xuân không phải do bị mê hoặc về huyền thoại này mà là căn cứ vào các thành phần Sinh - Hóa tích chứa trong rễ Mằn năng ón. Kết quả phân tích Hóa - Dược của các nhà khoa học Nhật Bản công bố năm 1923 cho thấy trong rễ Hà Thủ Ô có: 45,2% tinh bột; 3,1% chất béo; 1,1% Protein; 26,4% các chất tan trong nước; 4,5% các chất vô cơ; 1,7% các chất thuộc về Anthraglucozit, như: Chrysophola, Emodin, Therin. Đặc biệt hơn nữa trong Mằn năng ón có Lexitin.

Lexitin là một Photphatit được tạo thành từ sự kết hợp giữa axit Glyxerophotphorit với một phân tử Cholin và hai axit béo. Lexitin là thành phần quan trọng chủ chốt của Hệ thần kinh, nó là nguồn photpho dễ hấp thu và giúp cho sự chuyển hóa chung của cơ thể thông suốt. Trong thí nghiệm tiến hành trên cơ thể Thỏ, người ta ghi nhận: Lexitin làm tăng huyết dịch và trợ tim rất đặc hiệu. Để giúp cơ thể chống suy dinh dưỡng và suy nhược thần kinh người ta luôn cầu cứu đến Lexitin.

Các chất có thành phần Anthraglucozit có trong Mằn năng ón còn làm tăng sự co bóp của thành ruột trong quá trình tiêu hóa tăng dinh dưỡng cho cơ thể suy kiệt.

Đậu đen - Thuốc Trường Xuân
       Đậu Đen có Danh pháp khoa học là: Vigana cylindrical Skeels.

Đậu Đen là loại thực phẩm được toàn dân nước Việt ưa dùng để nấu chè, nấu xôi. Từ rất lâu đời, hạt Đậu Đen được dùng để chữa bệnh bằng cách làm vật đệm cho quá trình chế tạo thuốc. Đậu Đen được tham gia trong bài thuốc Trường Xuân đóng vai trò phù trợ để chế tạo Mằn năng ón chủ yếu là lấy “hơi” của hạt đậu nhiễm vào Mằn năng ón. Hơi từ hạt Đậu Đen thoát ra là kết quả chuyển hóa của hạt đậu trong quá trình hấp thu nhiệt. Chúng ta tìm hiểu các chất Sinh - Hóa chứa trong hạt Đậu Đen để nhận ra chất lượng hơi trong hạt đậu đã góp phần vào bài thuốc Trường Sinh.

Trong hạt Đậu Đen có 24,2 Protein tổng số, bao gồm: các axit amin thiết yếu cho cơ thể sống rất cao: 0.97g Lisin, 0,31g Tryptophan, 0,31g Metionin, 1,16g phenylalin,1,26g Lenxin, 1,09 Alanin, 1,11g Izoleuxin, 1,72g Acginin, 0,75g Histidin, 0,97 Valin ...

Ngoài hàm lượng Protein khá cao, Đậu Đen còn có: 1,7% chất béo. 53,3 Gluxit, 2,8% chất tro chứa 56mg% muối Can xi, 354mg% P, 6,1% Sắt, 0,06mg% Caroten. Đậu Đen có: 1,8mg% Vitamin PP, 3mg% VitaminC, 0,21mg% Vitamin B2, 0,51mg% Vitamin B1. Đặc biệt hơn nữa trong vỏ Đậu Đen có chứa chất màu Anthoxyanozit (Năm 1960, ông Đỗ Tất Lợi công bố tự ông đã tìm ra chất này). Đây là chất Sinh - Hóa rất phức tạp còn chứ nhiều bí ẩn về tác dụng sinh lí có tác dụng làm vững bền thành ngoài tế bào.

Tây y không dùng Đậu Đen để chữa bệnh. Trung y ca ngợi tác dụng chữ bệnh của Đậu Đen rất cao, người hoa cho rằng Đậu Đen có tác dụng bổ Thận, làm cho tóc bạc sớm đen trở lại. Kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian nước Việt, uống nước Đậu Đen giải được những cơn khát do ra nhiều mồ hôi. Người bị bệnh nước đái đục, uống nước Đậu Đen làm cho nước tiểu hết đục.

Chúng ta đã khảo sát tính chất Sinh - Hóa của 4 vị thuốc chính cấu tạo nên Bài thuốc Trường Xuân. Điều ghi nhận trước hết là 4 vị thuốc này không có độc tố và đều có bản chất là thức ăn thông thường. Điều kì diệu diễn ra khi cả 4 vị thuốc này hòa hợp với nhau nhờ có các loại Enzym trong các loại men ủ thuốc kích thích các biệt chất có trong từng vị tham gia tạo thành hợp chất mới để có Bài thuốc Trường Xuân.

      Bài thuốc này nếu dùng riêng có tác dụng làm chậm quá trình lão hóa cho toàn cơ thể. Nếu người dùng đang bị mắc phải các bệnh mạn tính nên theo chỉ dẫn sau:

Người đang bị cao huyết áp khi uống thuốc này bỏ nước Gừng mà uống với nước sắc của Cây Cỏ Xước hoặc nước Ngưu tất.

Người bị bệnh vẩy nến khi uống thuốc này bỏ nước Gừng và uống với nước sắc của nõn lá Tre

Người bị bệnh Chàm khi uống bỏ nước Gừng uống với nước lá khế

Phụ nữ kinh nguyệt không đều hoặc bị bệnh Xích Bạch đới dùng bài thuốc Trường Xuân rất hợp, nhưng khi uống bỏ Gừng mà uống với nước sắc của củ Gấu.

Người già đã có dấu hiệu lú lẫn uống bài thuốc Trường Xuân giúp minh mẫn trở lại, bỏ nước Gừng thay vào bằng nước sắc Viễn chí.

Người bị liệt dương (Nam giới) hoặc lãnh tình (Nữ giới) uống Bài thuốc Trường Xuân sau 3 tháng sẽ có hiệu lực: “Trên bảo dưới sẽ nghe lời nghiêm chỉnh”.

Những người trẻ tuổi mắc bệnh “chưa đến chợ đã mất tiền” (hoạt tinh), kiên trì uống Trường Xuân sẽ lành bệnh.

Người bị các loại bệnh ung thư đang điều trị bằng liệu pháp “Xạ trị” hoặc uống thuốc Tây bị rụng tóc khô da rát mồm, uống Trường Xuân sẽ khắc phục được các phản ứng phụ đó.

Người bị hôi nách; trứng cá mọc tùm lum; hơi thở có mùi hôi thối (hở van thực quản) uống Trường Xuân kiên trì sau 6 tháng hết bệnh.

Bài thuốc Trường Xuân còn nhiều tác dụng với nhiều loại bệnh mạn tính nữa nhưng nói nhiều quá sẽ bị coi là “ba hoa”. Xin mời các bạn tự chế lấy thuốc dùng thử coi.

Chúc các bạn thành công!

_Việt Y Cổ Truyền_
"Nhận chữa các bệnh nan y, mãn tính bằng thuốc cổ truyền thuần việt"